Tin Tức Làng Nghề – LÀNG NGHỀ HẢI VÂN.VN – làng nghề nhôm đúc, nhà gỗ, đồ gỗ https://langnghehaivan.vn tin tức, doanh nghiệp, làng nghề hải vân, làng nghề nhôm đúc, làng nghề nhà gỗ, làng nghề mộc, làng nghề đồ gỗ. Sun, 26 Feb 2023 17:29:40 +0000 vi hourly 1 https://wordpress.org/?v=6.1.1 https://langnghehaivan.vn/wp-content/uploads/2022/12/cropped-logolangnghe1-32x32.png Tin Tức Làng Nghề – LÀNG NGHỀ HẢI VÂN.VN – làng nghề nhôm đúc, nhà gỗ, đồ gỗ https://langnghehaivan.vn 32 32 Hội nghị lấy ý kiến về dự thảo phương án bồi thường, hỗ trợ Dự án: Xây dựng, kinh doanh hạ tầng kỹ thuật Cụm Công nghiệp làng nghề Hải Vân https://langnghehaivan.vn/hoi-nghi-lay-y-kien-ve-du-thao-phuong-an-boi-thuong-ho-tro-du-an-xay-dung-kinh-doanh-ha-tang-ky-thuat-cum-cong-nghiep-lang-nghe-hai-van-2/ Sun, 26 Feb 2023 17:29:40 +0000 https://langnghehaivan.vn/?p=8367 Sáng ngày 11/8/2022 tại Nhà văn hóa xã Hải Vân, UBND huyện, Hội đồng BTHT, GPMB Dự án: Xây dựng, kinh doanh hạ tầng kỹ thuật (HTKT) Cụm Công nghiệp làng nghề Hải Vân tổ chức Hội nghị lấy ý kiến về dự thảo phương án bồi thường, hỗ trợ Dự án. Về dự có …

The post Hội nghị lấy ý kiến về dự thảo phương án bồi thường, hỗ trợ Dự án: Xây dựng, kinh doanh hạ tầng kỹ thuật Cụm Công nghiệp làng nghề Hải Vân appeared first on LÀNG NGHỀ HẢI VÂN.VN - làng nghề nhôm đúc, nhà gỗ, đồ gỗ.

]]>
Sáng ngày 11/8/2022 tại Nhà văn hóa xã Hải Vân, UBND huyện, Hội đồng BTHT, GPMB Dự án: Xây dựng, kinh doanh hạ tầng kỹ thuật (HTKT) Cụm Công nghiệp làng nghề Hải Vân tổ chức Hội nghị lấy ý kiến về dự thảo phương án bồi thường, hỗ trợ Dự án. Về dự có đồng chí Phạm Vinh Dự – Huyện ủy viên, Phó Chủ tịch UBND huyện.

Hội nghị lấy ý kiến về dự thảo phương án bồi thường, hỗ trợ với các nội dung: Công khai dự thảo phương án bồi thường, hỗ trợ. Từ ngày 11/8/2022 đến ngày 30/8/2022 Hội đồng bồi thường, hỗ trợ GPMB huyện phối hợp với UBND xã Hải Vân niêm yết công khai thống kê phân loại nguồn gốc đất đai, thời điểm sử dụng đất và dự thảo Phương án bồi thường, hỗ trợ GPMB đối với các hộ phải thu hồi đất GPMB để thực hiện dự án: Xây dựng, kinh doanh HTKT Cụm Công nghiệp làng nghề Hải Vân, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định tại Trụ sở UBND xã Hải Vân và Nhà văn hóa các xóm 4, xóm 11, xóm 12 xã Hải Vân. Có 132 phương án dự thảo được công khai; tổng số tiền bồi thường, hỗ trợ là 21.480.348.000 đồng; trong đó bồi thường, hỗ trợ cho 131 hộ dân là 21.148.908.000 đồng, hỗ trợ đất UBND xã Hải Vân là 331.440.000 đồng.
Hộ dân được bồi thường, hỗ trợ theo giá đất cụ thể được UBND tỉnh Nam Định quyết định phê duyệt. Hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp: Mức hỗ trợ, chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm được chi trả bằng tiền và bằng 3 lần giá đất nông nghiệp cùng loại đất do UBND tỉnh Nam Định ban hành. Hỗ trợ ổn định đời sống; tiền hỗ trợ được trả 1 lần cùng với việc chi trả tiền bồi thường cho các hộ bị thu hồi được áp dụng và tính theo quy định.
Đối với bồi thường, hỗ trợ thiệt hại về nhà, công trình, vật kiến trúc gắn liền với đất khi Nhà nước thu hồi đất trên điah bàn tỉnh Nam Định được Hội đồng BTHT GPMT kiếm đếm, đo đạc và áp theo bảng đơn giá của Quyết định số 62/2021/ QĐ UBND ngày 21/12/2021 của UBND tỉnh Nam Định ban hành. Đối với bồi thường, hỗ trợ thiệt hại về cây trồng vật nuôi gắn liến với đất khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Nam Định được Hội đồng BTHT GPMB kiểm đếm và áp theo bản đơn giá của Quyết đinh số 06/2022/QĐ –UBDN ngày 22/4/2022 của UBND tỉnh Nam Định ban hành.

Tại Hội nghị một số hộ dân có ý kiến đề xuất về Dự thảo phương án bồi thường, hỗ trợ Dự án. Phát biểu tại đây, đồng chí Phạm Vinh Dự – Huyện ủy viên, Phó Chủ tịch UBND huyện đã trả lời thỏa đáng và giải đáp một số ý kiến, kiến nghị tại Hội nghị mà các hộ dân có liên quan đến Dự án: Xây dựng, kinh doanh hạ tầng kỹ thuật (HTKT) Cụm Công nghiệp làng nghề Hải Vân đã đề xuất. Đồng chí đề nghị trong thời gian công khai phương án nếu hộ nào có ý kiến kiến nghị gì thì làm đơn đề nghị (theo mẫu số 10/GPMB) gửi về Hội đồng bồi thường, hỗ trợ GPMB dự án hoặc UBND xã Hải Vân để được xem xét giải quyết. Quá thời hạn, Hội đồng BTHT GPMB sẽ hoàn chỉnh phương án bồi thường, hỗ trợ GPMB trình UBND huyện Hải Hậu ra quyết định phê duyệt./

Tải Về: 05-GM-HĐ

Tải Về: 6307-QĐ-UBND.

The post Hội nghị lấy ý kiến về dự thảo phương án bồi thường, hỗ trợ Dự án: Xây dựng, kinh doanh hạ tầng kỹ thuật Cụm Công nghiệp làng nghề Hải Vân appeared first on LÀNG NGHỀ HẢI VÂN.VN - làng nghề nhôm đúc, nhà gỗ, đồ gỗ.

]]>
Quyết Định Thành Lập CCN – Làng Nghề Hải Vân https://langnghehaivan.vn/quyet-dinh-thanh-lap-ccn-lang-nghe-hai-van/ Tue, 03 Jan 2023 04:17:19 +0000 https://langnghehaivan.vn/?p=8346   Tải Về:  2019.8.20 Quyết định thành lập CCN Hải Vân

The post Quyết Định Thành Lập CCN – Làng Nghề Hải Vân appeared first on LÀNG NGHỀ HẢI VÂN.VN - làng nghề nhôm đúc, nhà gỗ, đồ gỗ.

]]>

 

Tải Về:  2019.8.20 Quyết định thành lập CCN Hải Vân

The post Quyết Định Thành Lập CCN – Làng Nghề Hải Vân appeared first on LÀNG NGHỀ HẢI VÂN.VN - làng nghề nhôm đúc, nhà gỗ, đồ gỗ.

]]>
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở Làng Nghề Hải Vân https://langnghehaivan.vn/chuyen-dich-co-cau-kinh-te-o-lang-nghe-hai-van/ Sun, 01 Jan 2023 04:37:42 +0000 https://langnghehaivan.vn/?p=8289 Từ khi các tuyến giao thông huyết mạch chạy qua địa bàn là Quốc lộ 21B và tỉnh lộ 481B được đầu tư nâng cấp mở rộng, xã Hải Vân (Hải Hậu) càng có thêm lợi thế phát triển kinh tế. Ngoài sản xuất nông nghiệp, các nghề mộc truyền thống và một số nghề …

The post Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở Làng Nghề Hải Vân appeared first on LÀNG NGHỀ HẢI VÂN.VN - làng nghề nhôm đúc, nhà gỗ, đồ gỗ.

]]>
Từ khi các tuyến giao thông huyết mạch chạy qua địa bàn là Quốc lộ 21B và tỉnh lộ 481B được đầu tư nâng cấp mở rộng, xã Hải Vân (Hải Hậu) càng có thêm lợi thế phát triển kinh tế. Ngoài sản xuất nông nghiệp, các nghề mộc truyền thống và một số nghề phụ như: xây dựng, cơ khí… phát triển nhanh chóng những năm qua.
Sản xuất các sản phẩm cơ khí đúc tại Cty TNHH Công Chính, xóm 7, xã Hải Vân.
Năm 2010, bình quân thu nhập đầu người của xã mới đạt 10,5 triệu đồng/năm; tổng thu nhập kinh tế toàn xã trên 60 tỷ đồng; hơn 90% số lao động trong độ tuổi chỉ sản xuất nông nghiệp tại địa phương nên thời gian nông nhàn rất nhiều trong khi người dân thu nhập thấp. Nghề mộc truyền thống và một số nghề phụ quy mô nhỏ, hiệu quả kinh tế và giải quyết việc làm không cao. Thời điểm nông nhàn, hàng trăm lao động của xã phải “ly hương” đi làm ăn xa với đủ mọi ngành nghề. Trước tình hình đó, cấp ủy, chính quyền xã Hải Vân đã thống nhất chủ trương: tích cực chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp – nông thôn bền vững bằng cách phát triển sản xuất nông nghiệp theo hướng hàng hóa và nhân cấy, phát triển đa dạng ngành nghề nông thôn để tăng thu nhập cho nhân dân. Để thực hiện được mục tiêu trên, cùng với việc hoàn thành sớm công tác DĐĐT để quy hoạch lại ruộng đồng, phát triển sản xuất nông nghiệp; nhanh chóng hoàn thành quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 để giải quyết vấn đề mặt bằng cho phát triển ngành nghề phi nông nghiệp; khôi phục và phát triển nghề mộc truyền thống ở xóm Kim Thành theo các tiêu chí làng nghề do Bộ NN và PTNT quy định… Bên cạnh đó, xã còn chủ trương tạo điều kiện tối đa về thủ tục hành chính; kết nối với các tổ chức tín dụng giúp các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất có điều kiện vay vốn lãi suất ưu đãi để đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh… Công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn cũng được chú trọng và thực hiện thường xuyên. Mỗi năm, xã tranh thủ các nguồn kinh phí được hỗ trợ như: khuyến công, Đề án 1956 để phối hợp với Trung tâm Dạy nghề huyện tổ chức từ 4-5 lớp đào tạo nghề cho hàng trăm lao động trẻ. Với những biện pháp đồng bộ nêu trên, cùng với “cú hích” quan trọng là các dự án cải tạo, nâng cấp Quốc lộ 21B và tỉnh lộ 481B hoàn thành đã tạo điều kiện thuận lợi thúc đẩy phát triển mạnh các ngành nghề như: chế biến gỗ, cơ khí, may công nghiệp… Chỉ trong vài năm toàn xã đã có trên 30 doanh nghiệp, cơ sở sản xuất đầu tư xây dựng nhà xưởng, trang bị các loại máy móc hiện đại để chế biến gỗ và sản xuất các loại sản phẩm mộc mỹ nghệ, gia dụng, phục dựng nhà cổ… Các doanh nghiệp, cơ sở chế biến gỗ  trên địa bàn xã không chỉ cung ứng nguyên liệu cho làng nghề Kim Thành của xã mà còn đáp ứng nhu cầu nguyên liệu sản xuất cho nhiều làng nghề mộc trong huyện như: Bình Minh (Hải Minh); Phạm Rỵ (Hải Trung), Tam Tùng Đông (Hải Đường)… Cùng với đó, nghề mộc truyền thống ở làng Kim Thành có lịch sử phát triển gần 100 năm đã có bước phục hồi và phát triển mạnh mẽ. Hiện nay, trong tổng số 350 hộ làm nghề mộc toàn xã thì riêng làng Kim Thành có gần 150 hộ với khoảng 400 thợ chính, hàng trăm thợ phụ, học nghề. Ngoài ra làng có 10 xưởng mộc quy mô trên 10 lao động mỗi xưởng. Các cơ sở sản xuất ở làng nghề đi vào chuyên sâu từng loại mặt hàng nên đã tạo được “thương hiệu” riêng như cơ sở Đức Cường, Hùng Dũng chuyên xẻ gỗ để cung ứng nguyên liệu cho các cơ sở sản xuất; cơ sở chuyên sản xuất các loại đồ thờ như xưởng của ông Ngô Văn Khánh (xóm 18), có hộ chuyên hàng nội thất giả cổ; hộ chuyên đóng các loại giường như hộ anh Lương Văn Ảnh (xóm 17)… Mỗi tháng cơ sở của anh Ảnh tiêu thụ từ 3-5m 3 gỗ nguyên liệu, sản xuất từ 30-35 sản phẩm, tạo việc làm ổn định cho 7 lao động với mức thu nhập bình quân từ 4-5 triệu đồng/người/tháng. Cơ sở sản xuất của anh Ngô Nhật Thành (xóm 17) đầu tư hơn 1 tỷ đồng mua 3 máy cắt tự động CNC-3D (loại 4, 6, 10 mũi của Đài Loan) để nâng cao chất lượng sản phẩm, tăng năng suất lao động. Không chỉ phát triển mạnh nghề mộc, những năm gần đây, xã Hải Vân còn nhân cấy, phát triển thành công một số nghề mới như: cơ khí đúc; may công nghiệp; xây dựng dân dụng. Toàn xã hiện có 5 doanh nghiệp, cơ sở chuyên đúc kim loại màu (đồng, nhôm) với các loại sản phẩm chính là đồ thờ, đồ lưu niệm…; nội thất xây dựng (hàng rào, lan can cầu thang…) và hàng chục hộ sản xuất cơ khí tạo việc làm thường xuyên cho gần 200 lao động địa phương với mức thu nhập bình quân từ 150-200 nghìn đồng/người/ngày. Để phát triển sản xuất, ông Mai Công Chính, Giám đốc Cty TNHH Công Chính (xóm 7) đã đầu tư lò đúc nhôm điện trị giá trên 200 triệu đồng chuyên đúc các loại hàng rào, lan can, tay vịn cầu thang… mạ đồng. Cty của ông hiện có 30 lao động thường xuyên, thợ chính có thu nhập từ 150-200 nghìn đồng/người/ngày; thợ phụ có thu nhập từ 100 nghìn đồng/người/ngày… Hiện tại, sản phẩm của Cty không chỉ đáp ứng nhu cầu trong huyện, trong tỉnh mà còn được xuất đi các tỉnh, thành phố lớn như: Hà Nội, Hải Phòng, Hải Dương…
Từ một xã thuần nông chậm phát triển của huyện, đến nay, cơ cấu kinh tế của xã Hải Vân đã có sự chuyển dịch tích cực, bền vững. Toàn xã có trên 1.500 lao động thường xuyên tham gia sản xuất CN-TTCN, ngành nghề nông thôn. Tốc độ tăng trưởng kinh tế năm 2015 ước đạt xấp xỉ 12%; tổng thu nhập toàn xã đã được nâng lên 315 tỷ đồng; bình quân thu nhập đầu người ước đạt 31,5 triệu đồng/năm; tỷ lệ hộ nghèo giảm xuống còn 0,28%…

The post Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở Làng Nghề Hải Vân appeared first on LÀNG NGHỀ HẢI VÂN.VN - làng nghề nhôm đúc, nhà gỗ, đồ gỗ.

]]>
Để cơ sở sản xuất, kinh doanh cá thể phát triển bền vững Làng Nhgề Hải Vân https://langnghehaivan.vn/de-co-so-san-xuat-kinh-doanh-ca-the-phat-trien-ben-vung-lang-nhge-hai-van/ Sun, 01 Jan 2023 04:35:40 +0000 https://langnghehaivan.vn/?p=8287 Mặc dù các cơ sở sản xuất, kinh doanh cá thể (CSSXKDCT) của tỉnh ngày càng đóng góp quan trọng vào quá trình phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh. Tuy nhiên mô hình kinh tế này tồn tại một số bất cập cần các cấp chính quyền, ngành chức năng của tỉnh …

The post Để cơ sở sản xuất, kinh doanh cá thể phát triển bền vững Làng Nhgề Hải Vân appeared first on LÀNG NGHỀ HẢI VÂN.VN - làng nghề nhôm đúc, nhà gỗ, đồ gỗ.

]]>
Mặc dù các cơ sở sản xuất, kinh doanh cá thể (CSSXKDCT) của tỉnh ngày càng đóng góp quan trọng vào quá trình phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh. Tuy nhiên mô hình kinh tế này tồn tại một số bất cập cần các cấp chính quyền, ngành chức năng của tỉnh quyết liệt hơn nữa các chính sách, giải pháp hỗ trợ, tạo điều kiện thuận lợi để CSSXKDCT phát triển tích cực.

Sản xuất cửa nhôm đúc ở làng nghề xã Hải Vân (Hải Hậu).

II. Giải pháp hỗ trợ phát triển đồng bộ

Đặc điểm của CSSXKDCT là phát triển tự phát, manh mún, nhỏ lẻ, do đó sau 10 năm phát triển quy mô sản xuất, kinh doanh tăng nhưng mức tăng không nhiều. Quy mô vốn, tài sản cố định của CSSXKDCT đã tăng về tổng nguồn nhưng bình quân mỗi cơ sở còn nhỏ. Do đặc thù huy động vốn của CSSXKDCT hiện nay chủ yếu là tự thân, có ưu điểm là ổn định và có mức an toàn cho người kinh doanh nhưng lại không dồi dào và số lượng ít.

Tổng vốn kinh doanh của CSSXKDCT năm 2020 đạt gần 30.891 tỷ đồng, gấp 2,97 lần so với năm 2011; nguồn vốn bình quân một cơ sở mới đạt 300,1 triệu đồng. Hầu hết các cơ sở đều có quy mô nhỏ, bình quân năm 2020, một CSSXKDCT có 2 lao động, trình độ, chất lượng lao động còn thấp, lao động chưa qua đào tạo chiếm tỷ lệ cao, mức độ cải thiện tỷ lệ này còn chậm, điều này ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển của các cơ sở. Trình độ quản lý của đa số chủ CSSXKDCT còn nhiều hạn chế, chủ yếu hoạt động dựa vào kinh nghiệm thực tế dẫn đến việc kiểm soát chi phí, hạch toán kết quả sản xuất kinh doanh, xây dựng kế hoạch kinh doanh còn thiếu khoa học và thiếu chiến lược, chưa có tính quyết đoán trong việc ra các quyết định đầu tư. Nhiều CSSXKDCT còn gặp khó khăn về mặt bằng, kinh nghiệm; thiếu tính liên kết hợp tác trong sản xuất kinh doanh. Việc ứng dụng công nghệ của khu vực này còn chậm nên năng suất lao động, hiệu quả sản xuất kinh doanh chưa cao. Số thuế đã nộp của CSSXKDCT có địa điểm ổn định trong năm 2020 là 130 tỷ đồng, tăng 54,9 tỷ đồng so với năm 2011 nhưng quy mô còn nhỏ, chỉ chiếm 2,29% tổng số thu nội địa của toàn tỉnh. Bên cạnh đó, do nhiều hạn chế, sức chống chịu thấp nên trong giai đoạn dịch bệnh COVID-19 diễn biến phức tạp, các CSSXKDCT thuộc các ngành: du lịch, dịch vụ, kinh doanh vận tải… là nhóm đối tượng dễ bị tổn thương, phải tạm ngừng hoạt động hoặc thu hẹp quy mô sản xuất với  tỷ lệ cao.

Để phát huy tiềm năng của khu vực cá thể, đóng góp ngày càng nhiều vào phát triển kinh tế – xã hội đòi hỏi các cấp chính quyền, ngành chức năng cần có các biện pháp tháo gỡ khó khăn, phát triển và nâng cao hiệu quả hoạt động cho khu vực này. Trước tiên, tỉnh đặc biệt khuyến khích các CSSXKDCT có đủ điều kiện thì nên chuyển đổi mô hình hoạt động lên thành doanh nghiệp chính thức để được phát triển sản xuất, kinh doanh trong một môi trường thuận lợi, công bằng. Bởi trên thực tế, sau khi phát triển lên doanh nghiệp thì cơ hội làm ăn lớn hơn, áp lực tuân thủ pháp luật buộc doanh nghiệp phải minh bạch hơn, quản lý bài bản hơn. Một thuận lợi nữa là phần thuế phải nộp chỉ tính trên lợi nhuận, hoạt động kinh doanh có lãi mới phải nộp, lỗ thì không phải nộp, tạo sự công bằng cho người nộp thuế. Đặc biệt, hoạt động ở loại hình doanh nghiệp, CSSXKDCT sẽ có cơ hội mở rộng năng lực sản xuất, kinh doanh, quảng bá hình ảnh, dễ dàng tiếp cận vốn tín dụng từ các ngân hàng; sẽ được tham gia các dịch vụ điện tử như khai nộp thuế điện tử, sử dụng hóa đơn điện tử… giúp giảm thiểu nhiều rủi ro trong hoạt động sản xuất, kinh doanh. Đáng kể là từ ngày 15-10-2021, Nghị định 80/2021/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) có hiệu lực thi hành sẽ nâng cao hiệu quả, hiệu lực hỗ trợ DNNVV chuyển đổi từ hộ kinh doanh, DNNVV khởi nghiệp sáng tạo về công nghệ, hỗ trợ thông tin, hỗ trợ tư vấn, hỗ trợ phát triển nguồn nhân lực…

Đối với các CSSXKD đang hoạt động ở quy mô cá thể, gia tăng và nâng cao hơn nữa hiệu quả các chương trình, giải pháp hỗ trợ. Hiện nay, các cấp chính quyền, ngành chức năng của tỉnh đẩy mạnh thực hiện hiệu quả Nghị quyết số 105/NQ-CP của Chính phủ về hỗ trợ doanh nghiệp, HTX, hộ kinh doanh trong bối cảnh dịch bệnh. Trong đó, tích cực hỗ trợ để nhóm hộ kinh doanh được hưởng chính sách tín dụng hỗ trợ ứng phó dịch bệnh; thực hiện đầy đủ, kịp thời các chính sách gia hạn nộp thuế; miễn, giảm thuế, phí, tiền thuê đất; hỗ trợ giảm tiền điện, tiền nước, cước viễn thông, các chính sách hỗ trợ người lao động, người sử dụng lao động, đào tạo lao động… cho các hộ kinh doanh gặp khó khăn do ảnh hưởng của dịch COVID-19. Về lâu dài, tiếp tục ưu tiên hỗ trợ CSSXKDCT nâng cao khả năng tiếp cận nguồn vốn ưu đãi (theo hướng phù hợp với ngành nghề kinh doanh, linh hoạt về thời gian vay và tài sản thế chấp) để có nguồn lực mở rộng sản xuất kinh doanh, áp dụng khoa học công nghệ, chuyển đổi số, nâng cao hiệu quả hoạt động. Tăng cường tạo điều kiện để các CSSXKDCT có mặt bằng ổn định sản xuất, nhất là các ngành nghề sản xuất thủ công mỹ nghệ hay các làng nghề truyền thống cần quy hoạch theo vùng xa khu dân cư để tránh ô nhiễm môi trường. Đẩy mạnh kết nối để các CSSXKDCT gia tăng sự liên kết giữa các cơ sở với nhau, thành các hội nghề nghiệp, hay các HTX nghề nghiệp để nâng cao tính cạnh tranh, hợp tác trong sản xuất, kinh doanh, nhất là các mô hình sản xuất theo chuỗi, sản xuất an toàn, năng suất, chất lượng cao theo nhu cầu tiêu dùng của thị trường. Tiếp tục rà soát, thống nhất để có cơ chế và chính sách cụ thể hỗ trợ đối với CSSXKDCT. Các ngành, các địa phương cũng khuyến cao, bản thân các chủ CSSXKDCT cần tích cực thay đổi tư duy, quan niệm sản xuất nhỏ lẻ, manh mún, nhanh chóng tiếp cận và nâng cao trình độ quản lý, quản trị tài chính để nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh.

Việc thực hiện quyết liệt hơn nữa các chính sách, giải pháp phù hợp, tạo điều kiện thuận lợi, sẽ giúp các cơ sở CSSXKDCT tiếp tục phát triển và đóng góp tích cực vào nền kinh tế, góp phần sớm đưa Nam Định trở thành tỉnh phát triển khá của cả nước như Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XX đề ra./.

nguồn: baonamdinh.vn

The post Để cơ sở sản xuất, kinh doanh cá thể phát triển bền vững Làng Nhgề Hải Vân appeared first on LÀNG NGHỀ HẢI VÂN.VN - làng nghề nhôm đúc, nhà gỗ, đồ gỗ.

]]>
Hội nghị lấy ý kiến về dự thảo phương án bồi thường, hỗ trợ Dự án: Xây dựng, kinh doanh hạ tầng kỹ thuật Cụm Công nghiệp làng nghề Hải Vân https://langnghehaivan.vn/hoi-nghi-lay-y-kien-ve-du-thao-phuong-an-boi-thuong-ho-tro-du-an-xay-dung-kinh-doanh-ha-tang-ky-thuat-cum-cong-nghiep-lang-nghe-hai-van/ Sun, 01 Jan 2023 04:24:54 +0000 https://langnghehaivan.vn/?p=8280 Sáng ngày 11/8/2022 tại Nhà văn hóa xã Hải Vân, UBND huyện, Hội đồng BTHT, GPMB Dự án: Xây dựng, kinh doanh hạ tầng kỹ thuật (HTKT) Cụm Công nghiệp làng nghề Hải Vân tổ chức Hội nghị lấy ý kiến về dự thảo phương án bồi thường, hỗ trợ Dự án. Về dự có …

The post Hội nghị lấy ý kiến về dự thảo phương án bồi thường, hỗ trợ Dự án: Xây dựng, kinh doanh hạ tầng kỹ thuật Cụm Công nghiệp làng nghề Hải Vân appeared first on LÀNG NGHỀ HẢI VÂN.VN - làng nghề nhôm đúc, nhà gỗ, đồ gỗ.

]]>
Sáng ngày 11/8/2022 tại Nhà văn hóa xã Hải Vân, UBND huyện, Hội đồng BTHT, GPMB Dự án: Xây dựng, kinh doanh hạ tầng kỹ thuật (HTKT) Cụm Công nghiệp làng nghề Hải Vân tổ chức Hội nghị lấy ý kiến về dự thảo phương án bồi thường, hỗ trợ Dự án. Về dự có đồng chí Phạm Vinh Dự – Huyện ủy viên, Phó Chủ tịch UBND huyện.

Hội nghị lấy ý kiến về dự thảo phương án bồi thường, hỗ trợ với các nội dung: Công khai dự thảo phương án bồi thường, hỗ trợ. Từ ngày 11/8/2022 đến ngày 30/8/2022 Hội đồng bồi thường, hỗ trợ GPMB huyện phối hợp với UBND xã Hải Vân niêm yết công khai thống kê phân loại nguồn gốc đất đai, thời điểm sử dụng đất và dự thảo Phương án bồi thường, hỗ trợ GPMB đối với các hộ phải thu hồi đất GPMB để thực hiện dự án: Xây dựng, kinh doanh HTKT Cụm Công nghiệp làng nghề Hải Vân, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định tại Trụ sở UBND xã Hải Vân và Nhà văn hóa các xóm 4, xóm 11, xóm 12 xã Hải Vân. Có 132 phương án dự thảo được công khai; tổng số tiền bồi thường, hỗ trợ là 21.480.348.000 đồng; trong đó bồi thường, hỗ trợ cho 131 hộ dân là 21.148.908.000 đồng, hỗ trợ đất UBND xã Hải Vân là 331.440.000 đồng.
Hộ dân được bồi thường, hỗ trợ theo giá đất cụ thể được UBND tỉnh Nam Định quyết định phê duyệt. Hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp: Mức hỗ trợ, chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm được chi trả bằng tiền và bằng 3 lần giá đất nông nghiệp cùng loại đất do UBND tỉnh Nam Định ban hành. Hỗ trợ ổn định đời sống; tiền hỗ trợ được trả 1 lần cùng với việc chi trả tiền bồi thường cho các hộ bị thu hồi được áp dụng và tính theo quy định.
Đối với bồi thường, hỗ trợ thiệt hại về nhà, công trình, vật kiến trúc gắn liền với đất khi Nhà nước thu hồi đất trên điah bàn tỉnh Nam Định được Hội đồng BTHT GPMT kiếm đếm, đo đạc và áp theo bảng đơn giá của Quyết định số 62/2021/ QĐ UBND ngày 21/12/2021 của UBND tỉnh Nam Định ban hành. Đối với bồi thường, hỗ trợ thiệt hại về cây trồng vật nuôi gắn liến với đất khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Nam Định được Hội đồng BTHT GPMB kiểm đếm và áp theo bản đơn giá của Quyết đinh số 06/2022/QĐ –UBDN ngày 22/4/2022 của UBND tỉnh Nam Định ban hành.

Tại Hội nghị một số hộ dân có ý kiến đề xuất về Dự thảo phương án bồi thường, hỗ trợ Dự án. Phát biểu tại đây, đồng chí Phạm Vinh Dự – Huyện ủy viên, Phó Chủ tịch UBND huyện đã trả lời thỏa đáng và giải đáp một số ý kiến, kiến nghị tại Hội nghị mà các hộ dân có liên quan đến Dự án: Xây dựng, kinh doanh hạ tầng kỹ thuật (HTKT) Cụm Công nghiệp làng nghề Hải Vân đã đề xuất. Đồng chí đề nghị trong thời gian công khai phương án nếu hộ nào có ý kiến kiến nghị gì thì làm đơn đề nghị (theo mẫu số 10/GPMB) gửi về Hội đồng bồi thường, hỗ trợ GPMB dự án hoặc UBND xã Hải Vân để được xem xét giải quyết. Quá thời hạn, Hội đồng BTHT GPMB sẽ hoàn chỉnh phương án bồi thường, hỗ trợ GPMB trình UBND huyện Hải Hậu ra quyết định phê duyệt./

The post Hội nghị lấy ý kiến về dự thảo phương án bồi thường, hỗ trợ Dự án: Xây dựng, kinh doanh hạ tầng kỹ thuật Cụm Công nghiệp làng nghề Hải Vân appeared first on LÀNG NGHỀ HẢI VÂN.VN - làng nghề nhôm đúc, nhà gỗ, đồ gỗ.

]]>
Xã Hải Vân tổ chức Lễ trao tặng Huy hiệu Đảng; Học tập, Quán triệt Nghị quyết Hội nghị lần thứ 6, Ban Chấp hành TW Đảng khóa XIII; tổng kết công tác xây dựng Đảng năm 2022 https://langnghehaivan.vn/xa-hai-van-to-chuc-le-trao-tang-huy-hieu-dang-hoc-tap-quan-triet-nghi-quyet-hoi-nghi-lan-thu-6-ban-chap-hanh-tw-dang-khoa-xiii-tong-ket-cong-tac-xay-dung-dang-nam-2022/ Sun, 01 Jan 2023 03:51:50 +0000 https://langnghehaivan.vn/?p=8273 Sáng ngày 26/12/2022, xã Hải Vân tổ chức Lễ trao tặng huy hiệu Đảng; Học tập, Quán triệt, triển khai thực hiện Hội nghị lần thứ 6, Ban Chấp hành TW Đảng khóa XIII; tổng kết công tác lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ công tác Đảng năm 2022, triển khai nhiệm vụ năm 2023. …

The post Xã Hải Vân tổ chức Lễ trao tặng Huy hiệu Đảng; Học tập, Quán triệt Nghị quyết Hội nghị lần thứ 6, Ban Chấp hành TW Đảng khóa XIII; tổng kết công tác xây dựng Đảng năm 2022 appeared first on LÀNG NGHỀ HẢI VÂN.VN - làng nghề nhôm đúc, nhà gỗ, đồ gỗ.

]]>
Sáng ngày 26/12/2022, xã Hải Vân tổ chức Lễ trao tặng huy hiệu Đảng; Học tập, Quán triệt, triển khai thực hiện Hội nghị lần thứ 6, Ban Chấp hành TW Đảng khóa XIII; tổng kết công tác lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ công tác Đảng năm 2022, triển khai nhiệm vụ năm 2023. Về dự buổi lễ có các đồng chí: Đỗ Trung Kiên, Phó Bí thư Thường trực Huyện ủy; đồng chí Phạm Thị Ánh Tuyết – Huyện ủy viên, Phó Trưởng Ban tuyên giáo Huyện ủy.

 

          Trong dịp này, Đảng bộ xã Hải Vân có 5 đồng chí đảng viên được nhận Huy hiệu Đảng. Trong đó có các đồng chí: Đinh Thiện Cung, Mai Thị Là được nhận Huy hiệu 55 năm tuổi Đảng; đồng chí Đặng Ngọc Oánh được nhận Huy hiệu 50 năm tuổi Đảng; đồng chí Bùi Xuân Đức nhận Huy hiệu 45 năm tuổi Đảng; đồng chí Nguyễn Hữu Tân nhận Huy hiệu 40 năm tuổi Đảng. Trong đó tiêu biểu có đồng chí Bùi Xuân Đức nguyên là Ủy viên BTV Tỉnh ủy, Trưởng Ban Tổ chức Tỉnh ủy; đồng chí Nguyễn Hữu Tân nguyên là Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch HĐND xã Hải Vân.

          Tại buổi lễ đã long trọng đọc Quyết định tặng Huy hiệu Đảng của Ban tổ chức Tỉnh ủy Nam Định cho 5 đồng chí; đồng chí Đỗ Trung Kiên – Phó Bí thư Thường trực Huyện ủy đã trang trọng gắn Huy hiệu Đảng, trao tặng Quyết định và những bó hoa tươi thắm chúc mừng các đồng chí đảng viên. Theo quy định mức tặng phẩm kèm theo Huy hiệu 40 năm tuổi Đảng là 3 triệu đồng, Huy hiệu 45 năm tuổi Đảng là 3.800.000 đồng, Huy hiệu 50 năm tuổi Đảng là 4.500.000 đồng; Huy hiệu 55 năm tuổi Đảng là 5.300. 000 đồng, được trích từ Quỹ thi đua khen thưởng của Đảng bộ. Phát biểu chúc mừng và ghi nhận những đóng góp của các đồng chí Đảng viên trong toàn Đảng bộ nói chung và các đồng chí được nhận Huy hiệu Đảng đợt này nói riêng, đồng chí Đỗ Trung Kiên, Phó Bí thư Thường trực Huyện ủy khẳng định: “Trong thời gian qua các đồng chí đảng viên đã đoàn kết xây dựng Đảng bộ trong sạch, vững mạnh. Các đồng chí đảng viên đã có nhiều nỗ lực, cố gắng, gương mẫu đi trước trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và phát triển kinh tế xã hội; hoàn thành xuất sắc các nhiệm vụ của mình, được Đảng và Nhà nước ghi nhận. Đây là niềm vinh dự, tự hào không những của mỗi cá nhân các đồng chí đảng viên được nhận Huy hiệu Đảng trong đợt này mà còn là niềm tự hào của gia đình, dòng họ, làng xóm, Chi bộ và toàn Đảng bộ”. Đồng chí cũng mong muốn các đồng chí Đảng viên tiếp tục phát huy truyền thống cách mạng; luôn là tấm gương sáng giáo dục con cháu chấp hành tốt chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, quy định của địa phương. Tùy theo điều kiện về sức khỏe, cương vị công tác, góp công sức, trí tuệ xây dựng xã Hải Vân nói riêng và huyện Hải Hậu nói chung xứng đáng với nông thôn mới kiểu mẫu.

          Đại diện các đồng chí đảng viên được nhận Huy hiệu Đảng, đồng chí Bùi Xuân Đức nguyên Ủy viên BTV Tỉnh ủy, Trưởng Ban Tổ chức Tỉnh ủy bày tỏ lời cảm ơn sự quan tâm, ghi nhận, trân trọng của Đảng, Nhà nước và nhân dân về sự đóng góp của các đảng viên nói chung vào sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc; và các đồng chí hứa sẽ tiếp tục phát huy tốt truyền thống cách mạng của quê hương tiếp tục tham gia giáo dục truyền thống, lý tưởng cách mạng, lòng yêu nước cho thế hệ trẻ; đồng thời quan tâm, góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền địa phương, nhằm góp phần xây dựng huyện Hải Hậu phát triển, văn minh.

  Cũng trong buổi sáng cùng ngày xã Hải Vân tổ chức hội nghị Học tập, Quán triệt, triển khai thực hiện Hội nghị lần thứ 6, Ban Chấp hành TW Đảng khóa XIII; tổng kết công tác lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ công tác Đảng năm 2022, triển khai nhiệm vụ năm 2023./

The post Xã Hải Vân tổ chức Lễ trao tặng Huy hiệu Đảng; Học tập, Quán triệt Nghị quyết Hội nghị lần thứ 6, Ban Chấp hành TW Đảng khóa XIII; tổng kết công tác xây dựng Đảng năm 2022 appeared first on LÀNG NGHỀ HẢI VÂN.VN - làng nghề nhôm đúc, nhà gỗ, đồ gỗ.

]]>
Đặc điểm lâm sàng và điều trị chấn thương nhãn cầu tại BVTW Huế https://langnghehaivan.vn/dac-diem-lam-sang-va-dt-chan-thuong-nhan-cau-tai-bvtw-hue/ Mon, 03 Jan 2022 14:37:11 +0000 http://langnghehaivan.vn/?p=8225 Đối tượng nghiên cứu:          Gồm 94 bệnh nhân điều trị nội trú tại Khoa mắt Bệnh viện Trung ương Huế với chẩn đoán là chấn thương nhãn cầu từ tháng 4/2000 đến tháng 2/2001.          Kết quả nghiên cứu: –        Về đặc điểm lâm sàng: Đa số gặp ở nam giới (nam/nữ»3,27/1). Nguyên nhân …

The post Đặc điểm lâm sàng và điều trị chấn thương nhãn cầu tại BVTW Huế appeared first on LÀNG NGHỀ HẢI VÂN.VN - làng nghề nhôm đúc, nhà gỗ, đồ gỗ.

]]>
Đối tượng nghiên cứu:

         Gồm 94 bệnh nhân điều trị nội trú tại Khoa mắt Bệnh viện Trung ương Huế với chẩn đoán là chấn thương nhãn cầu từ tháng 4/2000 đến tháng 2/2001.

         Kết quả nghiên cứu:

–        Về đặc điểm lâm sàng: Đa số gặp ở nam giới (nam/nữ»3,27/1). Nguyên nhân thường là các tai nạn sinh hoạt hàng ngày (52,2%), tiếp đó là các tai nạn xã hội và chất nổ (26,8%).

  • Đánh giá hiệu quả điều trị chấn thương nhãn cầu: Thị lực AS(-) chiếm 17,39%, thị lực từ AS(+) đến ĐNT<3m chiếm 22,83%, thị lực từ ĐNT 3m®3/10 chiếm 20,65%, thị lực từ 4/10 ®7/10 chiếm 20,65% và thị lực ³8/10 chiếm 18,48%.

Chấn thương nhãn cầu là một vấn đề cấp cứu nhãn khoa thường gặp và là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây mù loà ở nước ta và trên thế giới. Ở Mỹ, mỗi năm xảy ra khoảng 2,5 triệu chấn thương mắt, ở Đức tỷ lệ chấn chương mắt trong dân là 23,2/100.000 người.

Ở Việt Nam chấn thương mắt là vấn đề thời sự, có khoảng 20% các tai nạn dân sự bị chấn thương mắt. Ở bệnh viện Việt Nam – Ba Lan trong 2 năm (1991-1992) có 51,3% chấn thương mắt dẫn đến mù loà, Bệnh viện Điện Biên Phủ thành phố Hồ Chí Minh trong năm 1990, tỷ lệ này lên đến 70,99%, Phú Yên thì tỷ lệ mù loà do chấn thương mắt trong dân chúng chiếm 0,29%. Để góp phần trong công tác chẩn đoán – điều trị và phòng bệnh đạt hiệu quả và giảm tỷ lệ mù loà do chấn thương nhãn cầu gây nên, chúng tôi thực hiện đề tài “Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng và điều trị chấn thương nhãn cầu tại Bệnh viện Trung ương Huế”.

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP

1.      Đối tượng nghiên cứu:

Gồm những bệnh nhân chẩn đoán chấn thương nhãn cầu vào điều trị nội trú tại Khoa mắt Bệnh viện Trung ương Huế từ tháng 4/2000 đến tháng 2/2001.

2.      Các vấn đề nghiên cứu:

–        Hoàn cảnh và nguyên nhân xảy ra chấn thương.

–        Đánh giá thời gian từ lúc bị chấn thương đến lúc nhập viện.

–        Phân loạn chấn thương nhãn cầu.

–        Các hình thái tổn thương tại nhãn cầu.

–        Phương pháp xử trí chấn thương nhãn cầu.

–        Đánh giá chung về kết quả điều trị

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

1.      Phân loạn chấn thương theo giới tuổi:

Bảng 1: Phân loạn chấn thương theo giới và tuổi

Tuổi

Giới

<6 tuổi 6-18 19-60 >60 Tổng số Tỷ lệ
Nam 10 22 38 2 72 76.6%
Nữ 1 11 8 2 22 23,4%
Tổng số 11 33 46 4 94

Tỷ lệ

11,7% 35,1% 48,9% 100%

2.      Phân loại chấn thương theo nghề nghiệp:

Bảng 2: Phân loại chấn thương nhãn cầu theo nghề nghiệp

STT Nghề nghiệp Số trường hợp Tỷ lệ
1 Trẻ em nhỏ 11 11,7%
2 Học sinh, sinh viên 34 36,2%
3 Nông dân 31 32,95%
4 Công nhân 8 8,5%
5 Cán bộ công chức 6 6,4%
6 Thành phần khác 4 4,25%
Tổng số 94 100%

3.      Phân loại chấn thương theo địa dư:

Bảng 3: Phân loại chấn thương theo địa dư

STT
Chỗ ở
Số ca Tỷ lệ
1 Thành thị 34 36,2%
2 Nông thôn 90 63,8%
Tổng số 94 100%

4.      Nguyên nhân chấn thương theo hoàn cảnh và nguyên nhân:

Bảng 4: Phân loại chấn thương theo hoàn cảnh và nguyên nhân

STT Hoàn cảnh – nguyên nhân Số trường hợp Tỷ lệ
1 Tai nạn xảy ra trong sinh hoạt 49 52,2%
2 Tai nạn xã hội và chất nổ 25 26,6%
3 Tai nạn trong lao động công nghiệp 7 7,4%
4 Tai nạn trong lao động nông nghiệp 6 6,4%
5 Tai nạn giao thông 5 5,3%
6 Nguyên nhân khác 2 2,1%
Tổng số 94 100%

Tai nạn trong sinh hoạt chiếm tỷ lệ cao nhất (52,2%). Đáng chú ý là các tai nạn xã hội và chất nổ xếp hàng thứ hai có 25/94 ca chiếm 26,6% trong đó có 17 ca do đánh lộn, 5 ca bị bắn bằng cung tên, súng cao su vào mắt và 3 ca do mìn nổ. Tai nạn giao thông có 5 ca chiếm 5,3%, ngoài ra chúng tôi còn gặp 2 trường hợp do nguyên nhân đặc biệt là chim mổ và chó cắn vào mắt.

5.      Thời gian bị thương đến khi nhập viện:

Bảng 5: Thời gian từ lúc bị chấn thương đến lúc nhập viện:

STT Thời gian Số ca Tỷ lệ
1 Trước 24 giờ 53 56,4%
2 Từ 24 đến 72 giờ 13 13,8%
3 Sau 72 giờ đến 1 tuần 12 12,8%
4 Sau 1 tuần 16 17%
Tổng số 94 100%

6.      Các thể loại chấn thương phối hợp tại nhãn cầu:

Bảng 6: Các chấn thương phối hợp tại nhãn cầu

STT Các tổn thương

Số trường hợp

1 Rách kết mạc 14
2 Xuất huyết kết mạc 12
3 Rách thủng giác mạc 41
4 Rách thủng củng mạc 13
5 Tổn thương mống mắt 30
6 Xuất huyết tiền phòng 34
7 Sa lệch thể thuỷ tinh 9
8 Vỡ thủng thể dịch kính 6
9 Xuất huyết dịch kính 5
10 Phòi dịch kính 9
11 Tổn thương thị thần kinh 3

7.      Các thương tổn phối hợp:

Bảng 7: Các thương tổn phối hợp (n – 94)

TT Tổn thương phối hợp Số trường hợp Tỷ lệ
1 Mi mắt 27 28,7%
2 Lệ bộ 3 3,2%
3 Hốc mắt 6 6,4%
4 Các cơ quan khác 5 5,3%
Tổng số 41 43,6%

8.      Các phương pháp điều trị chấn thương nhãn cầu:

Bảng 8: Các phương pháp điều trị chấn thương nhãn cầu

TT Phương pháp xử trí Số ca Tỷ lệ
1 Điều trị nội khoa 36 38,3%
2 Điều trị ngoại khoa

* Mổ cấp cứu

* Mổ phiên

58

42/58

16/58

61,7%

(72,4%)

(27,6%)

Tổng số 94 100%

Phần lớn các trường hợp phải can thiệp ngoại khoa (58/94 ca chiếm 61,7%) trong đó có 42/58 trường hợp mổ cấp cứu, chiếm 72,4%.

9.      Phương pháp xử trí ngoại khoa:

Bảng 9: Phương pháp xử trí ngoại khoa

STT Điều trị ngoại khoa Số ca Tỷ lệ
1 Phục hồi giải phẫu và chức năng NC 46 79,3%
2 Khoét bỏ nhãn cầu 12 20,7%
Tổng số 58 100%

Có 46/58 trường hợp (79,3%) được mổ phục hồi giải phẫu và chức năng nhãn cầu, còn lại 12 ca (20,7%) phải khoét bỏ vì những biến chứng trầm trọng.

10.    Lý do khoét bỏ nhãn cầu:

Bảng 10: Lý do khoét bỏ nhãn cầu

STT Điều trị ngoại khoa Số ca Tỷ lệ
1 Phục hồi giải phẫu và chức năng NC 7 58,3%
2 Khoét bỏ nhãn cầu 2 16,7%
3 Teo nhãn cầu 3 25%
Tổng số 58 100%

11.    Kết quả thị lực trước và sau điều trị:

Bảng 11: Kết quả thị lực

Thị lực Lúc vào Lúc ra Sau 1 tuần Sau 1 tháng Sau 3 tháng
AS(-) 13 (14,13%) 13 (14,13%) 13 (14,13%) 16 (17,39%) 16 (17,39%)
AS(+) → ĐNT <3m 59 (64,13%) 21 (22,83%) 21 (22,83%) 21 (22,83%) 21 (22,83%)
ĐNT 3m → 3/10 11 (11,96%) 23 (25%) 19 (20,65%) 19 (20,65%) 19 (20,65%)
4/10 → 7/10 6 (6,52%) 22 (23,91%) 24 (26,1%) 19 (20,65%) 19 (20,65%)
 >= 8/10 3 (3,26%) 13 (14,13%) 15 (16,3%) 17 (18,48%) 17 (18,48%)
Tổng số 92 92 92 92 92

Tỷ lệ mù loà lúc nhập viện rất cao, có 72 ca chiếm 78,26%, khi ra viện chỉ còn 34 ca chiếm 36,96% nhưng sau xuất viện 3 tháng lại tăng lên 37 ca (40,22%).

Có 2 trường hợp không đo được thị lực vì còn quá nhỏ.

12.    Các biến chứng và di chứng:

Bảng 12: Các biến chứng và di chứng

STT Biến chứng – di chứng Số trường hợp
Biến chứng
1 Đục thể thuỷ tinh 28
2 Glôcôm thứ phát 10
3 Xuất huyết nội nhãn tái phát 1
4 Rò thuỷ dịch 3
5 Nhiễm trùng nội nhãn 8
Di chứng
6 Sẹo giác mạc, di chứng tại giác mạc 48
7 Dính mống mắt 9
8 Vẩn đục xơ hoá dịch kính 6
9 Bong hoặc thoái hoá võng mạc 7
10 Teo nhãn cầu 5

Di chứng gặp nhiều nhất là giác mạc (48/94 ca chiếm 51,1%) gồm có mờ đục rộng, sẹo xấu GM.

Biến chứng gặp nhiều nhất là đục thể thuỷ tinh gặp 28 ca chiếm 29,8%, sau đó đến glôcôm thứ phát gặp 10 ca (10,6%), dính mống mắt với mắt sau giác mạc hay với mặt trước thể thuỷ tinh gặp 9 ca (9,6%). Biến chứng nặng nhất là nhiễm trùng nội nhãn có 8 ca.

13.    Tình hình điều trị một số biến chứng – di chứng:

Bảng 13: Tình hình điều trị một số biến chứng – di chứng

STT Biến chứng – di chứng Số ca Phương pháp điều trị Số ca
1 Đục thuỷ tinh 28 Lấy – đặt TTT nhân tạo 11
2 Glôcôm 10 Điều trị nội khoa

Điều trị ngoại khoa

2

8

3 Xuất huyết nội nhãn 1 Điều trị nội khoa 1
4 Rò thuỷ dịch 3 Điều trị ngoại khoa 3
5 Dính mống mắt 9 Tách dính, tạo hình ĐT 5
6 Nhiễm trùng nội nhãn 8 Điều trị bảo tồn

Khoét bỏ nhãn cầu

6

2

7 Bong võng mạc 2 Phẫu thuật 1
Có 39,3% các trường hợp đục thể thuỷ tinh (11/28 ca) được phẫu thuật đặt thể thuỷ tinh nhân tạo và 10,7% (3/28 ca) được lấy thể thuỷ tinh đục nhưng không đặt thể thuỷ tinh nhân tạo.

 100% các trường hợp glôcôm được điều trị ngay sau khi phát hiện, có 20% điều trị nội khoa đơn thuần và 80% còn lại phải can thiệp ngoại khoa.

Có 1 trường hợp xuất huyết tiền phòng tái phát được điều trị ngoại khoa ổn định, 3 ca rò thuỷ dịch do hở vết thương đều được phẫu thuật khâu kín lỗ rò, chỉ có 5/9 trường hợp dính mống mắt được phẫu thuật tách dính và tạo hình đồng tử, số còn lại không xử trí gì.

Có 8 ca bị nhiễm trùng nội nhãn được điều trị bảo tồn 6 ca, chiếm 75% bao gồm dùng kháng sinh đường toàn thân, tại chỗ và cả tiêm vào dịch kính, có 2 ca phải khoét bỏ nhãn cầu, 1 ca bong VM được phẫu thuật ấn độn củng mạc, còn 1 ca do bong vùng hoàng điểm nên không có khả năng điều trị.

KẾT LUẬN

1.      Về đặc điểm lâm sàng:

Đa số gặp ở nam giới (nam/nữ»3,27/1), thường các tai nạn xảy ra trong các sinh hoạt hàng ngày (52,2%), tiếp đó là các tai nạn xã hội và chất nổ (26,8%).

2.         Đánh giá hiệu quả điều trị chấn thương nhãn cầu:

The post Đặc điểm lâm sàng và điều trị chấn thương nhãn cầu tại BVTW Huế appeared first on LÀNG NGHỀ HẢI VÂN.VN - làng nghề nhôm đúc, nhà gỗ, đồ gỗ.

]]>
Chương trình cộng đồng: Kết nối mọi người với việc chăm sóc mắt https://langnghehaivan.vn/chuong-trinh-cong-dong-ket-noi-moi-nguoi-voi-viec-cham-soc-mat/ Mon, 03 Jan 2022 14:28:59 +0000 http://langnghehaivan.vn/?p=8243 Cách đây vài năm, tôi có cơ hội tham gia vào đội ngũ khám chữa bệnh của bệnh viện mắt khi họ tổ chức chyến đi khám chữa bệnh tại các địa phương .Mục đích ban đầu của các chuyến đi này là để tìm kiếm các bệnh nhân đục thủy tinh thể có thể …

The post Chương trình cộng đồng: Kết nối mọi người với việc chăm sóc mắt appeared first on LÀNG NGHỀ HẢI VÂN.VN - làng nghề nhôm đúc, nhà gỗ, đồ gỗ.

]]>
Cách đây vài năm, tôi có cơ hội tham gia vào đội ngũ khám chữa bệnh của bệnh viện mắt khi họ tổ chức chyến đi khám chữa bệnh tại các địa phương .Mục đích ban đầu của các chuyến đi này là để tìm kiếm các bệnh nhân đục thủy tinh thể có thể chữa trị được. Có rất nhiều người bệnh nhân đã tham gia vào chương trình khám chữa bệnh cho cộng đồng này, nhưng có rất ít bệnh nhân đục thuỷ tinh thể. Ngày khám thứ 2, tôi làm quen với 2 trẻ ở độ tuổi tiểu học, khi tôi giải thích với bọn trẻ rằng tôi muốn tìm kiếm một vài người mù trong làng và yêu cầu chúng dẫn tôi đi khắp làng để tìm họ.Nhờ sự giúp đỡ của những đứa trẻ này, tôi đã tìm thấy được 5 người mù trong đó có ba người bị đục thủy tinh thể có thể chữa trị được. Không ai trong số những người này từng đến “các địa điểm khám chữa bệnh cộng đồng”.Từ ngày hôm đó trở đi, tôi luôn suy nghĩ về một sáng kiến mới, một mô hình mới để kết nối những người mù với các dịch vụ về chăm sóc mắt. Một trong các khó khăn chính yếu của những người mù là họ thật sự không thể tự đi mình đi đến được các nơi khám chữa bệnh cộng đồng.

Cung cấp dịch vụ trong việc phòng chống mù lòa là dựa vào 2 mô hình khác biệt. Mô hình đầu tiên tập trung chủ yếu vào việc tạo dịch vụ chăm sóc mắt có thể tiếp cận cho càng nhiều người càng tốt. Mô hình này tốt nhất được phục vụ ở các khu vực thành thị nơi mà có các chuyên gia chăm sóc mắt giỏi, tuy nhiên người nghèo với ngân sách gia đình eo hẹp thì không có đủ khả năng để đến các trung tâm này do chi phí dịch vụ rất cao.

Việc củng cố khối lượng lớn các ca phẫu thuật tại các bệnh viện mắt có uy tín ở những khu vực  này có thể giảm giá thành của dịch vụ chăm sóc mắt xuống một mức giá phù hợp để đáp ứng được nhu cầu của đa số người dân và hướng đến một dịch vụ lâu dài.Nếu làm tốt được điều này thì không cần tổ chức khám chữa bệnh cộng đồng.Thật ra “Các chiến dịch khám chữa bệnh cộng đồng” ở những khu vực thành thị này sẽ làm suy yếu khả năng phát triển độc lập của các dịch vụ bền vững này.

Mô hình thứ hai tập trung vào việc tạo dựng dịch vụ chăm sóc mắt có sẵn cho người dân có nhu cầu nhưng họ lại sống quá xa các chuyên gia chăm sóc mắt. Những người dân này sinh sống ở nơi rất hẻo lánh, cơ sở vật chất nghèo nàn và lạc hậu, và mật độ dân cư thưa thớt làm cản trở việc củng cố đơn vị phẫu thuật số lượng lớn. Tuy nhiên, trong các khu vực này lại có rất nhiều người có nhu cầu phẫu thuật mắt và chúng ta cần phải lập kế hoạch như thế nào để chương trình khám chữa bệnh tại cộng đồng phát huy một cách tối ưu nhất nhằm tiếp cận đến những người dân địa phương.

Theo kinh nghiệm của tôi, phương pháp hiệu quả nhất để tiếp cận những cộng đồng này là huấn luyện và kết hợp các nhân viên chăm sóc mắt ban đầu vào các hệ thống chăm sóc ytế cơ sở hiện có. Theo lý tưởng, cần phải tìm kiếm và đào tạo nhân viên cộng đồng cho công việc chăm sóc mắt-mà hầu hết các dự án đều gọi là nhân viên phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng. Những nhân viên chăm sóc mắt ban đầu này là những người thích hợp nhất cho công việc hỗ trợ và giúp đỡ những người mù tiếp cận các nơi khám chữa bệnh cộng đồng.

Các dự án dựa vào nông thôn thực hiện “chiến dịch khám chữa bệnh lưu động” nhằm đem chăm sóc mắt ban đầu đến các cộng đồng dân cư sinh sống ở các khu vực xa xôi, hẻo lánh. Cần lưu ý để tránh nhầm lẫn giữa 2 thuật ngữ “chiến dịch khám chữa bệnh lưu động” và “ chương trình cộng đồng”.Chiến dịch khám chữa bệnh lưu đồng là chiến lược lâu dài được sử dụng cho các dự  án nông thôn nhằm tạo ra chăm sóc mắt có sẵn phổ biến và các chương trình khám đều đặn đến các vùng cộng đồng. Một phần các hoạt động hằng ngày của các chiến dịch là hướng đến các khu vực còn nghèo nàn. Khi họ tìm được đủ số lượng bệnh nhân có nhu cầu về các dịch vụ chuyên ngành, họ sẽ quyết định là nên chuyển các bệnh nhân này đến một cơ sở phẫu thuật hay là tổ chức một nhóm chuyên viên phẫu thuật đến các địa phương này.

Tại nhiều quốc gia, ở các khu vực nông thôn không có các chuyên gia chăm sóc mắt ban đầu. Do nhiều lý khác nhau nên hầu hết các chuyên gia chăm sóc mắt này đều trực thuộc các bệnh viện thành phố.Chúng tôi phụ thuộc rất nhiều vào các chuyên gia chăm sóc mắt để cung cấp các dịch vụ có thể tiếp cận đến người dân. Các chuyên gia này cũng hợp tác với các dự án chăm sóc mắt cộng đồng đang tạo ra các dịch vụ hiện có. “Chương trình cộng đồng” chỉ được xem như như là việc cung ứng các dịch vụ chuyên nghiệp đến một địa điểm hoàn toàn độc lập với dịch vụ thông thường của việc khám chữa bệnh tại các khu vực còn nghèo nàn. Để sử dụng các dịch vụ chuyên nghiệp theo cách có hiệu quả, chúng ta nên tìm kiếm và lựa chọn bệnh nhân tại địa điểm trung tâm.Việc sử dụng bác sỹ nhãn khoa để sàng lọc khám chữa bệnh công đồng quả thật rất lãng phí bời do nguồn nhân lực khan hiếm.Việc sàng lọc nên được xây dựng thành hệ thống cung cấp chăm sóc sức khỏe cơ sở lâu dài. Chỉ những dịch vụ chuyên nghiệp như việc phẫu thuật mới được phục vụ cho mục tiêu chương trình cộng đồng. Nhiều người trong chúng ta đã từng đọc quyển sách Ở Nơi Không Có Bác Sỹ.Tác giả đã miêu tả nhiều phương pháp để phát hiện và điều trị bệnh tật một cách rất thiết thực, đặc biệt rất phù hợp trong những trường hợp mà nơi đó không có bác sỹ khám bệnh. Kết thúc mỗi đoạn, tác giả liệt kê ra các chẩn đoán cần phải gặp bác sỹ. Nơi không có bác sỹ, các chương trình cộng đồng có thể liên kết con người với các dịch vụ chăm sóc mắt. Nhân viên chăm sóc mắt cộng đồng có thể phát hiện những bệnh nhân cần có bác sỹ điều trị. Điều này giúp củng cố nghiệp vụ của nhân viên chăm sóc mắt cộng đồng và hoàn thiện năng lực của các nhà cung cấp dịch vụ.

Có rất nhiều điển hình chương trình cộng đồng được phát động bởi nhu cầu của các nhà cung cấp dịch vụ (tiền thù lao, số liệu thống kê, các địa điểm mới lạ, các công việc từ thiện…….) thay cho những nhu cầu dịch vụ thiết thực trong các vùng còn nghèo nàn. Công việc tại cộng đồng của các nhân viên chăm sóc mắt này  được trả thêm tiền trợ cấp xa gia đình và nhiều nhân viên sống dựa vào tiền này để hỗ trợ thêm thu nhập của họ. Điều nầy không nên là nhân tố để quyết định làm chương trình ở đâu và khi nào. Lương bổng nên được trả ở một mức độ hợp lý và chương trình cộng đồng chỉ được thực hiện khi có số lượng bệnh nhân  phù hợp để xem xét bệnh nhân nào cần có sự chữa trị của trung tâm chăm sóc mắt chuyên nghiệp mà điều này không thể thực hiên trong loạt dự án.Ưu tiên hàng đầu là để củng cố dịch vụ chăm sóc mắt cơ sở lâu dài ở bất cứ nơi nào có thể, và sau đó chương trình cộng đồng chuyên nghiệp được thực hiện để hỗ trợ dịch vụ này.Chương trình cộng đồng nên được lập kế hoạch cẩn thận để không gây phiền nhiễu cho các dịch vụ thông thường của trung tâm chăm sóc mắt cấp tỉnh. Và một điều thật  là vô nghĩa khi tổ chức một chuyến đi 3 ngày để thực hiện 10 ca phẫu thuật trong khi một người có thể thực hiện 30 ca phẫu thuật trong một ngày tại phòng phẫu thuật bình thường.

Có một bài hát nổi tiếng đề cập đến ”việc tiếp cận và chạm đến đích”.Chương trình cộng đồng nên được lập kế hoạch cẩn thận để bạn có  hy vọng chạm đến “đích”.Các bệnh nhân có nhu cầu về được điều trị chuyên nghiệp do đội ngũ chương trình cộng đồng mang lại nên được xác định, tập hợp và sẵn lòng  tiếp nhận các dịch vụ.

The post Chương trình cộng đồng: Kết nối mọi người với việc chăm sóc mắt appeared first on LÀNG NGHỀ HẢI VÂN.VN - làng nghề nhôm đúc, nhà gỗ, đồ gỗ.

]]>
Bệnh viện măt Hà Giang tổ chức khám từ thiện https://langnghehaivan.vn/benh-vien-mat-ha-giang-to-chuc-kham-tu-thien/ Mon, 03 Jan 2022 14:22:27 +0000 http://langnghehaivan.vn/?p=8237 Trong 5 ngày từ 09-13/12/2019, Bệnh viện Mắt Hà Giang phối hợp với Bệnh viện Đa khoa huyện Quang Bình tổ chức khám, mổ và điều trị miễn phí cho người dân trên địa bàn huyện Quang Bình. Đây được xem là hoạt động mang tính nhân đạo cao cả, tương thân, tương ái và …

The post Bệnh viện măt Hà Giang tổ chức khám từ thiện appeared first on LÀNG NGHỀ HẢI VÂN.VN - làng nghề nhôm đúc, nhà gỗ, đồ gỗ.

]]>
Trong 5 ngày từ 09-13/12/2019, Bệnh viện Mắt Hà Giang phối hợp với Bệnh viện Đa khoa huyện Quang Bình tổ chức khám, mổ và điều trị miễn phí cho người dân trên địa bàn huyện Quang Bình.

Đây được xem là hoạt động mang tính nhân đạo cao cả, tương thân, tương ái và tinh thần làm việc hết mình của các y, bác sỹ Bệnh viện Mắt Hà Giang và Bệnh viện Đa khoa huyện Quang Bình, nhằm đem lại ánh sáng cho những người dân nghèo và giúp họ tìm lại được niềm vui. Đồng thời, đây còn là cơ hội để người bệnh nghèo được hưởng các dịch vụ y tế hiện đại trong điều trị.

Qua thăm khám, Đoàn y, bác sỹ Bệnh viện Mắt và Bệnh viện Đa khoa huyện Quang Bình trực tiếp khám và điều trị miễn phí cho hơn 300 lượt người; mổ miễn phí cho 110 ca bị đục thủy tinh thể bằng phương pháp Phaco, mổ quặm mi và bệnh mộng thịt cho các bệnh nhân có chỉ định mổ tại Bệnh viện huyện. Đôi mắt là một trong những bộ phận nhạy cảm nhất của con người và đục thủy tinh thể, quặm mi là những bệnh lý về mắt khá phổ biến trong cộng đồng hiện nay. Bệnh đục thủy tinh thể là bệnh gặp chủ yếu ở người lớn tuổi và đây là nguyên nhân chính gây mù lòa nhưng có thể điều trị khỏi thông qua phẫu thuật thay thể thủy tinh…

Đây là hoạt động thiết thực và có ý nghĩa nhân đạo sâu sắc, thông qua chương trình nhằm giúp đỡ các bệnh nhân có hoàn cảnh khó khăn chữa được các bệnh về mắt, giúp người bệnh có thể nhìn thấy ánh sáng, hòa nhập cộng đồng, giảm gánh nặng chi phí khám chữa bệnh cho người bệnh.

The post Bệnh viện măt Hà Giang tổ chức khám từ thiện appeared first on LÀNG NGHỀ HẢI VÂN.VN - làng nghề nhôm đúc, nhà gỗ, đồ gỗ.

]]>
Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng và điều trị sa, lệch thể thủy tinh do chấn thương đụng dập nhãn cầu https://langnghehaivan.vn/nghien-cuu-dac-diem-lam-sang-va-dieu-tri-sa-lech-the-thuy-tinh-do-chan-thuong-dung-dap-nhan-cau/ Mon, 03 Jan 2022 14:01:44 +0000 http://langnghehaivan.vn/?p=8222 Nghiên cứu trên nhóm 87 bệnh nhân bị sa lệch thể thuỷ tinh (TTT) do chấn thương nhằm tìm hiểu đặc điểm lâm sàng và nguyên tắc xử lí. Tác giả thấy rằng: sa lệch TTT là tổn thương thường gặp sau chấn thương đụng dập, ở lứa tuổi lao động, nam giới, do các …

The post Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng và điều trị sa, lệch thể thủy tinh do chấn thương đụng dập nhãn cầu appeared first on LÀNG NGHỀ HẢI VÂN.VN - làng nghề nhôm đúc, nhà gỗ, đồ gỗ.

]]>
Nghiên cứu trên nhóm 87 bệnh nhân bị sa lệch thể thuỷ tinh (TTT) do chấn thương nhằm tìm hiểu đặc điểm lâm sàng và nguyên tắc xử lí. Tác giả thấy rằng: sa lệch TTT là tổn thương thường gặp sau chấn thương đụng dập, ở lứa tuổi lao động, nam giới, do các tác nhân có đầu tù tác động trực tiếp vào nhãn cầu (94,3%). Hay gặp là lệch TTT (77%), vị trí tổn thương dây Zinn ở phía trên ngoài chiếm 59,8%, ở phía trong (phía mũi) chiếm 41,4%. Biến chứng do sa lệch TTT rất đa dạng: phù giác mạc (72,4%), viêm màng bồ đào (67,8%), tăng nhãn áp (36,8%), đục TTT (54%). Có rất nhiều phương pháp để điều trị và việc điều trị cũng gặp nhiều khó khăn, chức năng thị giác sau khi điều trị tăng không nhiều. Ngày nay máy cắt dịch kính  đã được sử dụng rộng rãi trong điều trị nên việc điều trị sa, lệch TTT đã có kết quả khả quan.

Sa, lệch thể thuỷ tinh (TTT) là tình trạng TTT di lệch ra khỏi vị trí giải phẫu bình thường, do nhiều nguyên nhân; có thể là triệu chứng trong một bệnh toàn thân, bẩm sinh, di truyền hay do chấn thương. Chấn thương là nguyên nhân hàng đầu gây sa, lệch TTT. Theo Arnaud B. và CS 1981: sa, lệch TTT sau chấn thương chiếm 1% số bệnh nhân vào viện và 4% trong số bệnh nhân chấn thương. Tiến triển thường nặng, gây nhiều biến chứng, để lại hậu quả trầm trọng có thể dẫn đến mù loà. Trong những thập kỷ gần đây với sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật, vi phẫu thuật đặc biệt là phẫu thuật dịch kính và kỹ thuật đặt TTT nhân tạo; tiên lượng của sa, lệch TTT đã có nhiều tiến bộ rõ rệt. Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng và điều trị sa, lệch TTT do chấn thương đụng dập nhãn cầu có mục tiêu: Tìm hiểu các hình thái lâm sàng sa, lệch TTT. Nhận xét  về các phương pháp điều trị cho từng hình thái.

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP

  1. Đối tượng:

Bệnh nhân bị sa, lệch TTT do chấn thương đụng dập điều trị tại khoa Chấn thương Viện Mắt Trung Ương từ  tháng 12 năm 2001 đến tháng 7 năm 2002.

2.      Phương pháp nghiên cứu:

2.1.   Khám lâm sàng: Lý do đến khám, hoàn cảnh chấn thương, tác nhân gây chấn thương, tính chất chấn thương, các triệu chứng ngay sau chấn thương. Thời gian đến viện sau chấn thương. Xử trí trước khi đến viện, phương pháp xử trí, kết quả sau xử trí…Tiền sử 2 mắt trước khi bị chấn thương. Khám bằng sinh hiển vi đèn khe đánh giá: Tổn thương giác mạc, tiền phòng, góc tiền phòng, mống mắt, đồng tử, TTT và tổn thương hệ thống dây Zinn. Đo thị lực, nhãn áp. Tra giãn đồng tử để khám. Soi kính 3 mặt gương. Đánh giá tình trạng dịch kính, võng mạc. Làm siêu âm, điện võng mạc.

2.2.   Xử trí :

        TTT ra tiền phòng, ở bờ đồng tử: lấy TTT cấp cứu, cắt mống mắt chu biên, cắt dịch kính trước. Nếu bệnh nhân đến muộn có dính góc phải cắt bè.

        TTT sa ra ngoài nhãn cầu: Lấy TTT + khâu vết thương.

        TTT sa vào dịch kính: điều trị nội khoa cho quá trình viêm ổn định. Phẫu thuật lấy TTT sa + cắt dịch kính. Cắt dịch kính + lấy TTT sa + cắt bè khi có tăng nhãn áp. Có thể kết hợp treo TTTNT.

–        TTT lệch, còn trong, không biến chứng điều trị nội khoa, theo dõi. Nếu có biến chứng tăng nhãn áp: cắt bè, cắt mống mắt chu biên.

–        TTT đục: lấy TTT ngoài bao, đặt TTT nhân tạo.

2.3.      Phương pháp đánh giá: Đánh giá các hình thái lâm sàng , đánh giá thị lực, đánh giá nhãn áp, đánh giá tổn thương phối hợp. Theo dõi sau khi ra viện sau 2 tuần, 1 tháng, 3 tháng, 6 tháng. So sánh kết quả giữa các lần khám. Số liệu được xử lý với chương trình Epi Info version 6.0.

KẾT QUẢ  VÀ BÀN LUẬN

  1. Đặc điểm lâm sàng theo tuổi và giới:

Hay gặp nhất là lứa tuổi trẻ từ 20 đến 40 (37 bệnh nhân chiếm 42,5%). Từ 41 đến 60 tuổi gặp 20 bệnh nhân chiếm 23%. Nam gặp nhiều hơn nữ: nam 85,1%; nữ 14,9%. Điều này phù hợp với số liệu của nhiều tác giả về tình trạng chấn thương hay ở trên người trẻ, nam giới. Dưới 20 tuổi gặp 16 ca lệch TTT, không gặp trường hợp nào sa TTT. Từ 20 đến 40 tuổi gặp 30 ca lệch TTT, 3 ca sa TTT vào buồng dịch kính, 2 ca sa TTT ở diện đồng tử và 2 ca sa TTT ra tiền phòng. Từ 41 đến 60 tuổi gặp 12 ca lệch TTT, 3 ca sa TTT vào buồng dịch kính, 2 ca TTT ở diện đồng tử và 3 ca sa TTT ra tiền phòng. Trên 60 tuổi gặp 9 ca lệch TTT, 3 ca sa TTT vào  dịch kính và 2 ca sa TTT ra tiền phòng.

2.      Tác nhân gây chấn thương:

Chủ yếu là chấn thương trực tiếp, có 82 bệnh nhân chiếm 94,3%. Chấn thương gián tiếp chỉ gặp ở 5 bệnh nhân, chiếm 5,7%. Chấn thương phần lớn là trong sinh hoạt.

3.      Các hình thái lâm sàng của sa, lệch TTT:

Bảng 3.1.Các hình thái sa, lệch thể thuỷ tinh

Hình thái

lâm sàng

Sa TTT Lệch TTT Tổng số
Ra tiền phòng ở bờ đồng tử Vào dịch kính Lệch ít Lệch nhiều
Số mắt 7 4 9 31 36 87
Tỷ lệ % 8 4,6 10,4 35,6 41,4 100

Hình thái hay gặp nhất là lệch TTT chiếm 77%. Trong đó lệch ít là 35,6%, lệch nhiều 41,4%. Sa TTT vào buồng dịch kính gặp 10,4%. Sa TTT ra tiền phòng là 8%. Sa TTT ở diện đồng tử gặp 4,6%. Theo B. Arnaud, G. Dupeyron tỷ lệ  lệch TTT là 50%.  Boudet C (1979) gặp 24/50 ca chiếm 48%. Theo B. Arnaud và cộng sự (1982) trong 85 trường hợp sa, lệch TTT có 42 ca lệch TTT. Theo Frenkel thì tất cả những trường hợp bị chấn thương mắt đều có một nửa bị sa, lệch TTT, ngay cả khi rất kín đáo do một phần của dây Zinn đã bị tổn thương sau chấn thương. Trên người trẻ, những sợi dây Zinn có thể đứt toàn bộ nhưng TTT vẫn có thể ở nguyên vị trí do có những dây chằng giữa bao sau TTT và màng Hyaloid.  Nguyễn Ngọc Trung (1991) nghiên cứu 39 ca sa, lệch TTT sau chấn thương tại Viện Mắt Trung Ương thấy lệch TTT là 34 ca chiếm 87,2%, sa TTT ra tiền phòng là 3 ca chiếm 7,7%, sa TTT vào buồng dịch kính là 2 ca chiếm 5,1%. Trần Thị Phương Thu (2001) nghiên cứu 40 ca sa, lệch TTT tại Trung tâm Mắt thành phố Hồ Chí Minh thấy lệch TTT là 21 ca chiếm 52,5%, ra tiền phòng là 10 ca chiếm 25%, sa vào buồng dịch kính là 9 ca chiếm 22,5%. Theo B. Arnaud và cộng sự (1982) trong 85 trường hợp sa, lệch TTT gặp 8 ca sa TTT ra trước chiếm 9,4%, 31 ca sa TTT ra sau chiếm 36,47%. Do dây Zinn bị đứt toàn bộ, rách màng Hyaloid trước, TTT rơi vào buồng dịch kính, nó có thể được dung nạp tốt nếu không có tổn thương bao TTT. Thậm chí, khi TTT đục nhiều nó vẫn có thể được giữ lại nhiều năm mà không gây biến chứng. Theo Suker, có thể dung nạp 30 năm. Theo Chanddler là 10 năm, Lorier và Crener là 20 năm, Phan Đức Khâm là 14 đến 20 năm. Tuy nhiên, cần phải theo dõi hết sức cẩn thận vì biến chứng có thể đến bất cứ lúc nào. Theo Nacciore, trong hình thái này tăng nhãn áp chiếm 10%, Boudet C gặp tỷ lệ tăng nhãn áp khá cao (10/18 ca).

4.      Hướng sa, lệch: Trên một mắt TTT có thể bị sa, lệch theo nhiều hướng khác nhau. Trong đó sa, lệch ra sau hay gặp nhất, thấy ở 70 mắt chiếm 80,5%. Sa, lệch xuống dưới gặp ở 37 mắt chiếm 42,5%. Sa, lệch lên trên ít gặp chỉ thấy ở 4 mắt chiếm 4,6%.

5.      Vị trí đứt Zinn: Trên một mắt dây Zinn có thể bị đứt ở nhiều vị trí khác nhau, có thể toàn bộ dây Zinn đều bị đứt. Trong đó hay gặp nhất là đứt ở vị trí trên ngoài, thấy ở 52 mắt chiếm 59,8%. Đứt dây Zinn phía trên trong gặp ở 47 mắt chiếm 54%, đứt ở phía trên và phía dưới ngoài gặp ở 45 mắt chiếm 51,7%, đứt toàn bộ dây Zinn ít gặp nhất chỉ thấy ở 20 mắt chiếm 23%.

6.      Sa, lệch và biến chứng:

Bảng 3.2. Sa, lệch TTT và biến chứng

Sa, lệch TTT Phù GM VMBĐ Tăng nhãn áp Đục TTT
Lệch ít (31) 25 (80,6%) 25 (80,6%) 11 (35,5%) 10 (32,3%)
Lệch nhiều (36) 24 (66,7%) 19 (52,8%) 13 (36,1%) 25 (69,4%)
Ở diện ĐT (4) 3 (75%) 2 (50%) 2 (50%) 2 (50%)
Tiền phòng  (7) 7 (100%) 7 (100%) 4 (57,1%) 4 (57,1%)
Vào DK (n=9) 4 (44,4%) 6 (66,7%) 1 (11,1%) 6 (66,7%)
Tổng số (87) 63 (72,4%) 59 (67,8%) 32 (36,8%) 47 (54%)

Phù giác mạc xảy ra ở tất cả các bệnh nhân sa TTT ra tiền phòng. Tỷ lệ phù giác mạc ở bệnh nhân lệch nhẹ TTT là 80,6%, lệch TTT nhiều là 66,7%. Tỷ lệ phù giác mạc ở bệnh nhân lệch TTT nói chung là 73,1%, sa TTT ở diện đồng tử là 75%, sa TTT vào buồng dịch kính là 44,4%. Do dịch kính tiếp xúc với nội mô giác mạc, do TTT nằm lâu trong tiền phòng hoặc do tăng nhãn áp làm cho giác mạc phù nề, tổn hại nội mô giác mạc. Nếu không được điều trị sẽ gây loạn dưỡng giác mạc.

–        Viêm MBĐ xảy ra ở tất cả các bệnh nhân bị sa TTT ra tiền phòng. Ở những bệnh nhân bị lệch nhẹ TTT thì tỷ lệ viêm MBĐ là 80,6%, bị lệch nhiều tỷ lệ viêm MBĐ là 52,8%, tỷ lệ  chung là 65,7%, sa TTT vào buồng DK tỷ lệ  là 66,7%, sa TTT ở diện đồng tử  là 50%.

–        Tăng nhãn áp xảy ra nhiều nhất ở hình thái sa TTT ra tiền phòng, có 4 ca chiếm 57,1%. Trong hình thái sa TTT ở diện đồng tử có 2 ca tăng nhãn áp, chiếm 50%. Trong 31 ca lệch nhẹ TTT có 11 ca tăng nhãn áp, chiếm 35,5%. Trong 36 ca lệch TTT nhiều có 13 ca tăng nhãn áp, chiếm 36,1%. Tỷ lệ tăng nhãn áp ở những bệnh nhân lệch TTT nói chung là 35,8%. Tăng nhãn áp ít xảy ra hơn ở hình thái sa TTT vào buồng dịch kính chỉ có 11,1%. Trong số 36 ca TTT bị lệch nhiều có 25 ca đục TTT, chiếm 69,4%. Boudet. C (1979) gặp 7 ca tăng nhãn áp trong 24 ca sa, lệch TTT chiếm 29,17%. Nhãn áp có thể tăng ngay sau chấn thương hoặc từ từ trong thời gian rất lâu. Nhãn áp có thể bình thường trong nhiều tuần sau đó tăng đột, do đó cần phải theo dõi nhãn áp thường xuyên. Arnaud (1982) gặp 31 ca tăng nhãn áp trong số 85 ca sa, lệch TTT. Trong đó 30% trong số các ca lệch TTT, 50% trong các ca sa TTT ra sau, 80% trong các ca sa TTT ra trước. Theo G. E. Venger (1987) tăng nhãn áp gặp trong 20% các trường hợp đục, lệch TTT sau chấn thương. Nguyễn Văn Vấn (1997) nghiên cứu 60 ca tăng nhãn áp sau chấn thương đụng dập gặp 2 ca do sa TTT, 26 ca do lệch TTT.

Robert – Ritch (1996) chia nguyên nhân tăng nhãn áp trong sa, lệch TTT thành hai nhóm có và không liên quan đến TTT:

*       Nhóm liên quan đến TTT: Nghẽn đồng tử bởi TTT. Nghẽn đồng tử bởi dịch kính. Nghẽn đồng tử bởi TTT và dịch kính. TTT ra tiền phòng gây nghẽn đồng tử và nghẽn góc. Glôcôm do tiêu TTT. Glôcôm do những đợt đóng góc: TTT lệch nhô ra trước làm tăng diện tiếp xúc của TTT với mặt sau mống mắt gây nghẽn đồng tử thứ phát, thuỷ dịch ứ đọng ở hậu phòng đẩy mống mắt chu biên ra trước dẫn đến tiền phòng nông gây đóng góc. Nếu trạng thái này kéo dài và lặp lại sẽ dẫn đến tổn hại vùng bè hoặc gây dính góc .

*       Nhóm không liên quan đến TTT: Lùi góc. Bất thường góc tiền phòng. Trùng với glôcôm góc mở mạn tính. Các dạng glôcôm khác như: glôcôm do hồng cầu chết “Ghost – Cell Glaucoma”, glôcôm do tiêu máu, glôcôm tân mạch. Theo Ph. Demailly  có nhiều nguyên nhân gây tăng nhãn áp nhưng phần lớn là do nghẽn đồng tử thứ phát vì: TTT sa ra trước gây nghẽn đồng tử và nghẽn góc. TTT bán lệch ra trước, dịch kính trào ra gây nghẽn đồng tử. TTT sa vào buồng dịch kính, nút dịch kính hình nấm gây nghẽn  đồng tử. Dây chằng Zinn bị giãn làm TTT nhô ra trước, tạo bệnh cảnh điển hình của glôcôm góc đóng thứ phát. Một số trường hợp phản ứng màng bồ đào có thể gây tăng nhãn áp  hoặc kết hợp với các cơ chế trên. Theo Gundorova ngoài những yếu tố trên thì kích thích cơ học của TTT lệch lên thể mi cũng gây tăng tiết thuỷ dịch. Pashtaev cho rằng TTT sa vào buồng dịch kính gây biến đổi cấu trúc dịch kính, thay đổi lưu thông dịch của dịch kính là nguyên nhân dẫn đến tăng nhãn áp. Volkov và cộng sự (1996) đề cập đến đặc điểm sinh cơ học của sự tác động lẫn nhau giữa điều tiết và dẫn lưu thuỷ dịch: cả hai chức năng này được thực hiện đều nhờ vào hoạt động của cơ thể mi, tính đàn hồi của màng bồ đào, bao của TTT và vùng bè. Tác giả cho rằng lệch TTT không chỉ gây loạn thị do TTT mà còn dẫn đến sự thay đổi trương lực cơ thể mi nhằm điều chỉnh loạn thị. Điều này đồng thời làm thay đổi dẫn lưu thuỷ dịch và là tiền đề cho bệnh glôcôm.

–        Trong số 31 ca TTT bị lệch nhẹ có 10 ca bị đục TTT, chiếm 32,3%. Tỷ lệ đục TTT  trong số bệnh nhân lệch TTT nói chung là 52,2%. Trong số 9 ca TTT sa vào buồng dịch kính có 6 ca bị đục TTT, chiếm 66,7%. Trong số 7 ca TTT sa ra tiền phòng có 4 ca bị đục TTT, chiếm 57,1%. Có 2 trong số 4 ca TTT sa ở diện đồng tử bị đục TTT, chiếm 50%. Nhãn cầu chứa nhiều chất dịch gây sức ép được truyền theo các hướng vào TTT, gây thương tổn ở biểu mô bao TTT, các thớ TTT và gây đục TTT dưới nhiều hình thái: đục dưới bao, đục hình cánh hoa hồng, đục hình vòng hoặc đục lan toả. Kutschera và Ebner (1964) gặp 32% đục TTT trong 144 ca sa, lệch TTT. Boudet. C gặp 50% đục TTT trong các ca bị sa, lệch TTT. Arnaud (1982) gặp 27 ca đục TTT trong số 85 ca bị sa, lệch TTT, trong đó 40% trong số các ca lệch TTT và 20% trong số các ca sa TTT ra sau. Ngoài ra khi TTT lệch sẽ ảnh hưởng đến dinh dưỡng của TTT có thể gây đục TTT.

7.     Các tổn thương phối hợp:

Trên một mắt bị sa, lệch TTT do chấn thương đụng dập nhãn cầu có thể gặp nhiều tổn thương phối hợp. Trong đó: giãn đồng tử là hay gặp nhất, thấy ở 82 trường hợp chiếm 94,3%. Lùi góc tiền phòng gặp ở 66 trường hợp chiếm 75,9%. Phù, trợt giác mạc gặp ở 63 trường hợp chiếm 72,4%. Phù võng mạc gặp ở 51 trường hợp chiếm 58,6%. Xuất huyết tiền phòng gặp 26 ca chiếm 29,9%. Xuất huyết dịch kính gặp 25 ca chiếm 28,7%. Rách da mi gặp 16 ca chiếm 18,4%. Đứt chân mống mắt gặp 14 ca chiếm 16,1%. Tách thể mi gặp 13 ca chiếm 14,9%. Xuất huyết võng mạc gặp 10 ca chiếm 11,5%. Ngoài ra còn gặp các tổn thương khác như: đứt lệ quản, sụp mi, rách bờ đồng tử, dính góc, lỗ hoàng điểm, rách võng mạc, bong võng mạc, teo gai thị… và có 18 trường hợp không soi được góc do TTT sa ra tiền phòng, diện đồng tử, TTT lệch ra trước đẩy chân mống mắt áp vào giác mạc… hoặc do xuất huyết tiền phòng quá nhiều.

8.      Phương pháp điều trị:

Trong tổng số 87 bệnh nhân được nghiên cứu chúng tôi thấy: có 28 trường hợp được điều trị nội khoa chiếm tỷ lệ 32,2%, còn lại 59 trường hợp phải can thiệp ngoại khoa chiếm 67,8%.Trong đó: cắt bè là 11 ca, chiếm 18,6%, lấy TTT trong bao + cắt dịch kính là 9 ca, chiếm 15,3%, lấy TTT trong bao + cắt dịch kính + treo TTT nhân tạo là 9 ca chiếm 15,3%, cắt bè + lấy TTT trong bao + cắt dịch kính là 5 ca, chiếm 8,5%, cắt bè + lấy TTT trong bao + cắt dịch kính là 4 ca, chiếm 6,8%, lấy TTT trong bao + cắt dịch kính, khâu chân mống mắt là 3 ca, chiếm 5,1%, lấy TTT ngoài bao + đặt TTT nhân tạo là 3 ca, chiếm 5,1%. Các phương pháp phẫu thuật khác như: cắt dịch kính tiền phòng, cắt TTT + cắt dịch kính, lấy TTT + cắt dịch kính + đai củng mạc + bơm dầu nội nhãn… cũng được chúng tôi áp dụng để điều trị. Có tất cả 23 trường hợp phải cắt bè, 41 trường hợp phải lấy TTT, 39 trường hợp phải cắt dịch kính và 17 trường hợp đặt được TTT nhân tạo trong bao hoặc cố định vào củng mạc. Ngoài ra còn 6 trường hợp phải khâu da mi và 5 trường hợp nối lệ quản.

9.      Kết quả điều trị:

9.1. Thị lực:

Bảng 3.3. Đặc điểm thị lực trước và sau điều trị

Thị lực Vào Ra Sau 3 tháng Sau 6 tháng
ST(-) 1 (1,1%) 1 (1,1%) 1 (1,1%) 1 (1,7%)
ST(+) đến 0,02 61 (70,1%) 23 (26,4%) 14 (16,1%) 12 (20%)
0,02 đến 0,05 12 (13,8%) 21 (24,1%) 12 (13,8%) 6 (10%)
0,05 đến <0,1 4 (4,6%) 8 (9,2%) 13 (14,9%) 7 (11,7%)
0,1 đến 0,3 6 (6,9%) 21 (24,1%) 23 (26,4%) 17 (28,3%)
0,3 đến 0,6 2 (2,3%) 9 (10,3%) 10 (11,5%) 7 (11,7%)
Trên 0,6 1 (1,1%) 4 (4,6%) 14 (16,1%) 10 (16,7%)
Tổng số 87 (100%) 87 (100%) 87 (100%) 60 (100%)

Lúc vào số bệnh nhân có thị lực từ ST(+) đến ĐNT 1m là 61 bệnh nhân chiếm 70,1%, từ ĐNT 1m đến ĐNT 3m là 12 bệnh nhân chiếm 13,8%, từ 0,1 đến 0,3 là 6 bệnh nhân chiếm 6,9%, từ 0,3 đến 0,6 là 2 bệnh nhân chiếm 2,3%, chỉ có 1 bệnh nhân có thị lực trên 0,6 chiếm 1,1%. Khi ra viện chỉ còn 23 bệnh nhân có thị lực từ ST(+) đến 0.02 chiếm 26,4%, từ 0,02 đến 0,05 là 22 bệnh nhân chiếm 25,3%, từ 0,1 đến 0,3 là 20 bệnh nhân chiếm 23%, từ 0,3 đến 0,6 là 9 bệnh nhân chiếm 10,3%, trên 0,6 là 4 bệnh nhân chiếm 4,6%. Sau 3 tháng số bệnh nhân có thị lực từ ST(+) đến 0,02 là 14 chiếm 16,1% từ 0,02 đến 0,05 là 12 bệnh nhân chiếm 13,8%, từ 0,1 đến 0,3 là 23 bệnh nhân chiếm 26,4%, từ 0,3 đến 0,6 là 10 bệnh nhân chiếm 11,5%, trên 0,6 là 14 bệnh nhân chiếm 16,1%. Sau 6 tháng số bệnh nhân có thị lực từ ST(+) đến 0,02 là 12 chiếm 20%, từ  ĐNT 1m đến  ĐNT 3m  là 6 bệnh nhân chiếm 10%, từ 0,1 đến 0,3 là 17 bệnh nhân chiếm 28,3%, từ 0,3 đến 0,6 là 7 bệnh nhân chiếm 11,7%, trên 0,6 là 10 bệnh nhân chiếm 16,7%.

9.2.   Nhãn áp:

Bảng 3.4. Kết quả nhãn áp trước và sau khi điều trị

Nhãn áp Vào Ra Sau 3 tháng Sau 6 tháng
<15 mmHg 5 (5,7%) 5 (5,7%) 0 (0%) 0 (0%)
15- 24mmHg 50 (57,5%) 81 (93,1%) 87 (100%) 60 (100%)
Trên24mmHg 32 (36,8%) 1 (1,1%) 0 (0%) 0 (0%)
Tổng số 87 (100%) 87 (1005) 87 (100%) 60 (100%)

 

Lúc vào viện số bệnh nhân bị tăng nhãn áp là 32 chiếm 36,8%. Sau khi ra viện vẫn còn 1 bệnh nhân bị tăng nhãn áp chiếm 1,1%, bệnh nhân này chúng tôi tiếp tục cấp đơn điều trị nội khoa và theo dõi. Lúc vào viện số bệnh nhân có nhãn áp nằm trong giới hạn bình thường là 50 bệnh nhân chiếm 57,5%, ra viện là 81 bệnh nhân chiếm 93,1%. Sau 3 tháng là 87 bệnh nhân chiếm 100%. Sau 6 tháng là 60 bệnh nhân chiếm 100%. Lúc vào viện số bệnh nhân có nhãn áp dưới 15mmHg là 5 bệnh nhân chiếm 5,7%, sau khi ra viện số này cũng là 5 bệnh nhân chiếm 5,7%. Sau 3 tháng và 6 tháng không còn bệnh nhân nào nhãn áp bị thấp.

KẾT LUẬN

         Tính chất của sa, lệch TTT do chấn thương đụng dập nhãn cầu: Là một trong những tổn thương khá thường gặp sau chấn thương đụng dập. Hay gặp ở lứa tuổi lao động, nam gặp nhiều hơn nữ, thường là do các tác nhân có đầu tù tác động trực tiếp vào nhãn cầu (94,3%). Tổn thương thường rất nặng, để lại hậu quả là thị lực bị tổn hại trầm trọng. Các hình thái lâm sàng rất đa dạng và phức tạp. Hay gặp là lệch TTT, chiếm tỷ lệ cao (77%), còn lại là các hình thái sa TTT khác nhau, chúng tôi không gặp hình thái sa ra ngoài nhãn cầu. Vị trí tổn thương dây Zinn hay gặp ở phía trên ngoài (59,8%), ít gặp ở phía trong (phía mũi)   (41,4%)

         Biến chứng và các phương pháp điều trị: Trên một mắt bị sa, lệch TTT do chấn thương đụng dập nhãn cầu có thể gặp một hoặc nhiều biến chứng khác nhau: phù giác mạc (72,4%), viêm màng bồ đào (67,8%), tăng nhãn áp (36,8%), đục TTT (54%). Các biến chứng này có thể là do bản thân TTT bị sa, lệch hoặc do chấn thương đụng dập gây nên, hoặc phối hợp. Các biến chứng và các tổn thương phối hợp thường gặp và nặng nề. Có rất nhiều phương pháp để điều trị và việc điều trị cũng gặp nhiều khó khăn, chức năng thị giác sau khi điều trị tăng không nhiều. Ngày nay máy cắt dịch kính  đã được sử dụng rộng rãi trong điều trị nên việc điều trị sa, lệch TTT đã có kết quả khả quan.

TÀI LIỆU THAM KHẢO:

1.      BURILLON C, GAIN PH: “Traumatologie du segment anterieur de Lloeil”. Edition  technique – Encycl. Med. Chir., (Paris, France). Ophtalmologie, 21-700-A-10.4; 1993.

2.      RIGAL – SASTOURNE J. CL., MAILLE M., CASTELLI PH. ET AL: “Interêt des perfluorocarbones liquides dans le traitement chirurgical de la luxation postérieure du cristallin post contusive”  – Bull. Soc. Ophtalmol. Fr.; 6-7;1994

3.      FRED M.W: “Traumatic lens subluxation”. Basic and clinical science course 10; 165; 1992-1993.

4.      JAFFE N. S., JAFFE M.S., JAFFE G. F.: “Lens displacement. Cataract Surgery and its Complications”- Mosby; 200-212; 1997.

5.      POLLET B., DRALANDS L., FOETS B.: “Management of posteriorly dislocated cristallin lenses or lens fragments”. Bull Soc. Belge Ophtalmol.: 257; 33-38; 1995.

The post Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng và điều trị sa, lệch thể thủy tinh do chấn thương đụng dập nhãn cầu appeared first on LÀNG NGHỀ HẢI VÂN.VN - làng nghề nhôm đúc, nhà gỗ, đồ gỗ.

]]>