Doanh Nhân Hải Vân – LÀNG NGHỀ HẢI VÂN.VN – làng nghề nhôm đúc, nhà gỗ, đồ gỗ https://langnghehaivan.vn tin tức, doanh nghiệp, làng nghề hải vân, làng nghề nhôm đúc, làng nghề nhà gỗ, làng nghề mộc, làng nghề đồ gỗ. Thu, 17 Oct 2024 10:33:43 +0000 vi hourly 1 https://wordpress.org/?v=6.1.1 https://langnghehaivan.vn/wp-content/uploads/2022/12/cropped-logolangnghe1-32x32.png Doanh Nhân Hải Vân – LÀNG NGHỀ HẢI VÂN.VN – làng nghề nhôm đúc, nhà gỗ, đồ gỗ https://langnghehaivan.vn 32 32 Vua Nhà Gỗ – Kiến trúc nhà gỗ đẹp trong văn hóa dân gian https://langnghehaivan.vn/vua-nha-go-kien-truc-nha-go-dep-trong-van-hoa-dan-gian/ Thu, 17 Oct 2024 10:33:21 +0000 https://langnghehaivan.vn/?p=8378 20/1/2022Gốc Với giá trị cốt lõi ‘tìm về dấu tích của lịch sử, tìm về cội nguồn’ chàng trai trẻ Lương Công Tuấn Anh , quê Hải Vân, Hải Hậu, Nam Định đã khởi nghiệp với nghề xây dựng nhà gỗ, dựng lên những ngôi nhà gỗ chứa đựng những tinh hoa văn hóa và …

The post Vua Nhà Gỗ – Kiến trúc nhà gỗ đẹp trong văn hóa dân gian appeared first on LÀNG NGHỀ HẢI VÂN.VN - làng nghề nhôm đúc, nhà gỗ, đồ gỗ.

]]>
Chuyên trang Sao Pháp Luật - Báo Pháp Luật Việt Nam

Gốc

Với giá trị cốt lõi ‘tìm về dấu tích của lịch sử, tìm về cội nguồn’ chàng trai trẻ Lương Công Tuấn Anh , quê Hải Vân, Hải Hậu, Nam Định đã khởi nghiệp với nghề xây dựng nhà gỗ, dựng lên những ngôi nhà gỗ chứa đựng những tinh hoa văn hóa và sự bình dị của làng quê Việt Nam.

Khác với những ngôi nhà mang phong cách hiện đại, phương tây, kiến trúc nhà gỗ cổ truyền là một niềm tự hào của người Việt, đây được coi là một nét kiến trúc văn hóa dân gian được kế thừa phát huy của nhiều thế hệ đi trước. Căn nhà được chia thành nhiều gian khác nhau, trong đó chủ yếu là số lẻ 3, 5, 7. Những ngôi nhà gỗ hiện lên với một nét cổ kính rêu phong, mái ngói đỏ tươi, hài hòa với phần sân vườn đẹp. Nguyên liệu sử dụng cho nếp nhà gỗ này chính là gỗ tự nhiên, một dòng chất liệu cao cấp trong làm nhà cổ truyền.

Một mẫu nhà gỗ thể hiện nét văn hóa truyền thống

Một mẫu nhà gỗ thể hiện nét văn hóa truyền thống

Kết cấu nhà gỗ dân gian truyền thống tương đối cầu kỳ và phức tạp vì có rất nhiều chi tiết cấu tạo khác nhau, đối với mỗi vùng miền thì tên gọi cũng khác nhau. Trong kiến trúc nhà gỗ cổ truyền Bắc Bộ, ngôi nhà được dựng trên các cột gỗ to khỏe, rồi được dựng lên theo các vì và được nối với nhau bằng các xà ngang, xà ngưỡng liên hoàn tạo thành một bộ khung vững chắc. Sau khi bộ khung được dựng thì lợp mái và làm tường xung quanh.

Với xu hướng phát triển của xã hội, nhiều khách hàng ngày càng hướng đến xây dựng các mẫu nhà phong cách hiện đại, trẻ trung phương tây, mẫu mã đa dạng, lượng khách hàng có nhu cầu xây dựng nhà gỗ cũng khá ít. Chính vì thế, nhiều công ty xây dựng chuyển hướng thi công theo xu hướng mới. Với cái nôi làng nghề truyền thống, cũng một phần tiếp xúc từ nhỏ nghề của cha ông, Lương Công Tuấn Anh biến nghề “tay trái” của mình thành một công ty chuyên xây dựng thiết kế nhà gỗ – Công ty CP thương mại Villa Gold với thương hiệu “Vua Nhà Gỗ”.

Anh Lương Công Tuấn Anh – Giám đốc Công ty CP thương mại Villa Gold – Công Ty TNHH Vua Nhà Gỗ

Có sự thành công như ngày hôm nay thì cũng không khỏi trải qua những vấp ngã, chia sẻ về những khó khăn, anh Tuấn Anh chia sẻ: “Vì tuổi còn trẻ nên khi mới khởi nghiệp có rất nhiều khó khăn như kinh tế eo hẹp, kinh nghiệm đưa sản phẩm ra thị trường còn bỡ ngỡ. Nhưng ước muốn phát triển và dữ nét đẹp nhà cổ của ông ta để lại tôi lỗ lực tìm hiểu và và phát huy đưa những cái cũ vào những cái mới. Tạo lên một nét đẹp tân cổ giữa cổ kính và hiện đại. Có nhiều lúc tôi muốn từ bỏ vì vốn bỏ ra rất lớn, nhưng với quyết tâm của bản thân và được gia đình, bạn bè hỗ trợ tôi vẫn tiếp tục cố gắng đi lên để tôn vinh vẻ đẹp ngôi nhà gỗ cổ truyền của dân tộc Việt Nam ta.

Một góc xưởng của Công ty CP thương mại Villa Gold – Công Ty TNHH Vua Nhà Gỗ

Làm nhà gỗ không đơn giản như xây nhà mái bằng, công việc đòi hỏi sự am hiểu tỉ mỉ, khéo léo, đặc biệt là tay nghề của người thợ. Bởi, một ngôi nhà gỗ theo kiến trúc cổ không chỉ đảm bảo kiến trúc, thẩm mĩ mà còn chứa đựng hồn cốt, nét văn hóa truyền thống. Những ngôi nhà gỗ còn là nơi lưu giữ những tinh hoa văn hóa hướng đến cho những thế hệ sau này biết đến”, anh Tuấn Anh chia sẻ thêm.

Những chi tiết được những người thợ điêu khắc tỷ mỉ

Bằng sự nhiệt huyết với những ngôi nhà gỗ, đến nay trải dài từ Bắc đến Nam, những ngôi nhà mang thương hiệu “Vua Nhà Gỗ” đã có mặt ở nhiều tỉnh thành trong cả nước. Trong thời gian tới, sẽ tôn tạo nhiều công trình đình, chùa, nhà thờ, di tích văn hóa lịch sử góp phần bảo tồn, phát huy truyền thống lịch sử và văn hóa của dân tộc.

Công Ty TNHH Vua Nhà Gỗ

Địa chỉ: Khu làng nghề Hải Vân – Hải Hậu – Nam Định

Điện thoại: 0913.580.666 – 091111.58.25

Website: villagold.vnvuanhago.comvuanhago.vn

The post Vua Nhà Gỗ – Kiến trúc nhà gỗ đẹp trong văn hóa dân gian appeared first on LÀNG NGHỀ HẢI VÂN.VN - làng nghề nhôm đúc, nhà gỗ, đồ gỗ.

]]>
VILLA GOLD – Đơn Vị Thi Công Nhà Gỗ Chất Lượng Cao Vua Nhà Gỗ https://langnghehaivan.vn/villa-gold-don-vi-thi-cong-nha-go-chat-luong-cao-vua-nha-go/ Wed, 11 Jan 2023 13:41:23 +0000 https://langnghehaivan.vn/?p=8360 Chúng tôi tự tin Mang đến thành công cho bạn!    CÔNG TY CỔ PHẦN THƯƠNG MẠI VILLA GOLD xin gửi lời chào và lời chúc THỊNH VƯỢNG tới Quý khách hàng! Chú trọng phát triển từ bên trong, VILLA GOLD âm thầm bước những bước đi vững chắc trên thị trường tư vấn thiết …

The post VILLA GOLD – Đơn Vị Thi Công Nhà Gỗ Chất Lượng Cao Vua Nhà Gỗ appeared first on LÀNG NGHỀ HẢI VÂN.VN - làng nghề nhôm đúc, nhà gỗ, đồ gỗ.

]]>
Chúng tôi tự tin Mang đến thành công cho bạn!

 

 CÔNG TY CỔ PHẦN THƯƠNG MẠI VILLA GOLD xin gửi lời chào và lời chúc THỊNH VƯỢNG tới Quý khách hàng! Chú trọng phát triển từ bên trong, VILLA GOLD âm thầm bước những bước đi vững chắc trên thị trường tư vấn thiết kế kiến trúc, thiết kế nội thất và thi công hoàn thiện các công trình Nhà Gỗ – Nhôm Đúc Hợp Kim. Không chỉ nhận được sự tin tưởng của hầu hết các khách hàng lớn tại các tỉnh phía Bắc, VILLA GOLD còn khẳng định vị thế của mình thông qua sự phát triển nhiều lĩnh vực liên quan, với mục tiêu chinh phục tại nhiều tỉnh thành khắp 3 miền của Tổ quốc. Bên cạnh đó, VILLA GOLD không ngừng mở rộng quy mô bằng việc đặc biệt chú trọng nâng cao chất lượng nhân sự, cải tiến phương thức tiếp cận khách hàng để đảm bảo chất lượng của dự án. Đáng chú ý, trong mục tiêu dài hạn, VILLA GOLD sẽ phát triển Hệ sinh thái đồng bộ và khép kín tại Việt Nam ở nhiều lĩnh vực liên quan tới thiết kế thi công Nhà Gỗ và Nhôm Đúc Hợp Kim… Với việc phát triển hình thái này, VILLA GOLD sẽ mang đến sản phẩm và dịch vụ phù hợp với từng khách hàng đồng thời xây dựng hình ảnh thương hiệu chuyên nghiệp thông qua dự án mà VILLA GOLD thực hiện. Luôn đặt lợi ích của khách hàng lên trên hết với giá trị kinh doanh cốt lõi Lợi Người – Lợi Mình, VILLA GOLD đảm bảo rằng luôn mang tới Quý khách hàng, Chủ đầu tư một giải pháp tối ưu và đúng đắn nhất để ghi dấu ấn của mình trong tâm trí của khách hàng. VILLA GOLD – TẦM NHÌN GIÁ TRỊ, TÍCH LŨY THÀNH CÔNG Giám Đốc KTS – Lương Công Tuấn Anh

VỀ CHÚNG TÔI Được hình thành từ một cơ sở chế biến đồ gỗ thủ công, với 6 năm hành nghề và phát triển, được gia tiên truyền lại những nét đẹp tinh tế nhất để đưa ra một sản phẩm tốt. Rồi đi lên hình thành CÔNG TY CỔ PHẦN THƯƠNG MẠI VILLA GOLD tiếp tục cố gắng hội nhập và phát triển thêm 3 năm. Với 3 năm phất đấu, học hỏi, hội nhập và phát triển. Chúng tôi mang đến cho quý khách hàng những sản phẩm tốt nhất: – Nhà Gỗ Cổ Truyền – Đồ Gỗ Nội Thất – Nhôm Đúc Hợp Kim. Với đội ngũ KTS, KTV, Thiết Kế Viên , Công Nhân Viên nhiệt huyết, yêu nghề và luôn tìm hiểu tiếp thu những cái mới kết hợp với nét đẹp Cổ Truyền, Văn Hoá Dân Gian. Chúng tôi mang đến cho quý Khách Hàng những sản phẩm mang độ tinh sảo cao, chất lượng hàng đầu, mẫu mã độc lạ. Với phương châm: – Lắng nghe và tiếp thu – Cải tiến và nâng cao – Nhiệt huyết và yêu nghề Chắc chắn sẽ làm hài lòng quý Khách Hàng. Và đặc biệt rất mong được quý Khách Hàng quan tâm, chỉ bảo, ủng hộ góp phần thúc đẩy sự lớn mạnh của Công Ty trong thời gian tiếp theo. XIN CHÂN THÀNH CẢM ƠN QUÝ KHÁCH Giám Đốc KTS – Lương Công Tuấn Anh

 TẦM NHÌN SỨ MỆNH GIÁ TRỊ CỐT LÕI Trung thực với bản thân, với tổ chức, với khách hàng Trung thực Luôn trong tâm thế học hỏi từ bất cứ ai: Bạn bè, đồng nghiệp, khách hàng… Học hỏi Mọi khó khăn đều là thử thách, luôn suy nghĩ tích cực, hướng đến những giá trị tốt đẹp và nhân ái. Villa Gold luôn hướng tới những tiêu chuẩn cao nhất để có thể đưa thương hiệu của mình đứng đầu trong lĩnh vực hoạt động ở thị trường trong và ngoài nước. Villa Gold mang trong mình sứ mệnh mang đến cho khách hàng những giải pháp tối ưu nhất, sản phẩm chất lượng nhất với chi phí phù hợp nhất bằng thái độ tận tâm với nghề và không ngừng học hỏi của chúng tôi. Thái độ tích cực Luôn đề cao trách nhiệm của mình với bản thân, gia đình, xã hội, tổ chức và khách hàng. Dám nhận lỗi và sửa chữa để trưởng thành hơn Trách nhiệm Làm việc khoa học, có kế hoạch , mục tiêu rõ ràng, xử lý vấn đề chuyên nghiệp, nhanh chóng, bài bản Chuyên nghiệp

 

 

 

 

CÔNG TY CỔ PHẦN THƯƠNG MẠI VILLA GOLD CÔNG TY CỔ PHẦN T.M VILLA GOLD

CÔNG TY TNHH VUA NHÀ GỖ

CÔNG TY CP DV DU LỊCH TRAVEL GOLD

091111.58.25 | 0912.919.405

Khu làng nghề Hải Vân – Hải Hậu – Nam Định

villagold.vn@gmail.com

villagold.vn

The post VILLA GOLD – Đơn Vị Thi Công Nhà Gỗ Chất Lượng Cao Vua Nhà Gỗ appeared first on LÀNG NGHỀ HẢI VÂN.VN - làng nghề nhôm đúc, nhà gỗ, đồ gỗ.

]]>
Nhà Gỗ Tân Nhật Minh Cung Cấp Các Sản Phẩm Nhà Gỗ Đẹp – HẢI VÂN https://langnghehaivan.vn/nha-go-tan-nhat-minh-cung-cap-cac-san-pham-nha-go-dep-hai-van/ Wed, 11 Jan 2023 01:55:27 +0000 https://langnghehaivan.vn/?p=8354 Ngô Văn Chính hiện tại anh đang là CEO của Công Ty TNHH Thương Mại Sản Xuất Nhà Gỗ Nội Thất Tân Nhật Minh.anh cho biết Kinh doanh nhà gỗ là một hình thức kinh doanh hiện tại ở Việt Nam cũng rất được nhiều người tham gia. Mô hình này đã và đang phát …

The post Nhà Gỗ Tân Nhật Minh Cung Cấp Các Sản Phẩm Nhà Gỗ Đẹp – HẢI VÂN appeared first on LÀNG NGHỀ HẢI VÂN.VN - làng nghề nhôm đúc, nhà gỗ, đồ gỗ.

]]>
Ngô Văn Chính hiện tại anh đang là CEO của Công Ty TNHH Thương Mại Sản Xuất Nhà Gỗ Nội Thất Tân Nhật Minh.anh cho biết Kinh doanh nhà gỗ là một hình thức kinh doanh hiện tại ở Việt Nam cũng rất được nhiều người tham gia. Mô hình này đã và đang phát triển ở nước ngoài nên khi vào Việt Nam thì nó được xem là có tiềm năng phát triển. Mô hình kinh doanh nhà gỗ là hình thức kinh doanh theo kiểu là sẽ tự thi công sản phẩm này. Sau đó thiết kế nó theo những hình dáng và mẫu mã khác nhau và bán ra thị trường. Ngoài ra bạn có thể kinh doanh theo kiểu nhập hàng từ các xưởng thi công sau đó về bán.
Cùng với những công trình nhà ở được xây dựng bằng bê tông, cốt thép, nhà gỗ cũng là phương án được nhiều hộ gia đình hiện nay lựa chọn để tạo nên không gian sống cho mình. Nhà gỗ mang đến vẻ đẹp đơn sơ, giản dị, gần gũi với thiên nhiên nhưng không kém phần sang trọng, đẳng cấp. Chính vì vậy, nhu cầu làm nhà gỗ ngày càng trở nên phổ biến và không ngừng tăng cao, đặc biệt là ở những nơi phát triển.

   

Nhà gỗ được thiết kế độc đáo, đa dạng, sang trọng. Nội thất bên trong được thiết kế theo kiểu xếp gọn nên có thể sử dụng đầy đủ mọi tiện ích bên trong. Việt Nam đang là một thị trường tốt để phát triển mô hình này. Do Việt nam hiện tại đang phát triển những mô hình du lịch sinh thái dạng homestay , farmstay. Mà những mô hình này rất chuộng sử dụng những căn nhà gỗ xinh xắn hiện đại. Vừa giúp họ tiết kiệm chi phí vừa giúp họ đáp ứng nhu cầu của du khách. Mô hình này rất được người Việt Nam đón nhận kể từ khi bước chân vào thị trường Việt Nam. Khi xã hội Việt Nam có xu hướng thích những cuộc sống tối giản thì nhu cầu tìm về những căn nhà nhỏ xinh rất cao. Những căn nhà nhỏ nhưng đầy đủ tiện nghi sẽ giúp bạn có thể kinh doanh tốt hơn.

Nhà gỗ Nội thất Tân Nhật là một trong những thương hiệu uy tín, đơn vị chuyên nhận thiết kế và thi công nhà gỗ tại Nam Định cũng như các tỉnh thành khác trên toàn quốc trong suốt nhiều năm qua. Với đội ngũ nhân viên chuyên nghiệp, có tay nghề trình độ cao, Nội Thất Tân Nhật sẽ mang đến cho khách hàng những sản phẩm chất lượng và dịch vụ tốt với giá thành hợp lý nhất. Hiện tại, để đáp ứng cho nhu cầu đa dạng của khách hàng, Nội Thất Tân Nhật chuyên nhận thi công và thiết kế các loại nhà gỗ như: nhà gỗ Đà Lạt, Nhật Bản, nhà gỗ 3 gian, 5 gian, nhà cấp 4, nhà sàn gỗ,… được làm từ nhiều chất liệu gỗ khác nhau (gỗ thông, gỗ lim, gỗ xoan, gỗ bạch đàn, gỗ sồi sơn trắng, gỗ mít, gỗ căm xe,….) đồng thời triển khai cung cấp các loại phụ kiện đi kèm: cửa kính, đồ nội thất, đồ gia dụng.

Khách hàng sẽ được cung cấp những sản phẩm nội thất đẹp, đa dạng về mẫu mã cũng như chủng loại. Bên cạnh đó, với nhiều năm kinh nghiệm trong lĩnh vực sản xuất nhà gỗ truyền thống và hiện đại, cùng đội ngũ nhân viên chuyên nghiệp, nhiệt tình, luôn làm việc với tinh thần trách nhiệm cao, Nội Thất Tân Nhật sẽ mang đến cho khách hàng sự hài lòng bởi những công trình kiến trúc nhà gỗ đẹp, chất lượng tốt với mức giá rẻ. Ngoài ra Nội Thất Tân Nhật còn có đội ngũ nhân viên tư vấn, thiết kế và thi công chuyên nghiệp, luôn làm việc với sự nhiệt tình và tinh thần trách nhiệm cao.

Nếu quý khách đang có nhu cầu về thiết kế và thi công các công trình nhà gỗ, liên lạc ngay với Nhà Gỗ Nội Thất Tân Nhật để được nhận những tư vấn và dịch vụ xây dựng tốt nhất và chuyên nghiệp nhất hiện nay của đội thợ làm Nhà Gỗ Nội Thất Tân Nhật
Một Chữ Tín Vạn Niềm Tin

The post Nhà Gỗ Tân Nhật Minh Cung Cấp Các Sản Phẩm Nhà Gỗ Đẹp – HẢI VÂN appeared first on LÀNG NGHỀ HẢI VÂN.VN - làng nghề nhôm đúc, nhà gỗ, đồ gỗ.

]]>
Đặc điểm lâm sàng và điều trị chấn thương nhãn cầu tại BVTW Huế https://langnghehaivan.vn/dac-diem-lam-sang-va-dt-chan-thuong-nhan-cau-tai-bvtw-hue/ Mon, 03 Jan 2022 14:37:11 +0000 http://langnghehaivan.vn/?p=8225 Đối tượng nghiên cứu:          Gồm 94 bệnh nhân điều trị nội trú tại Khoa mắt Bệnh viện Trung ương Huế với chẩn đoán là chấn thương nhãn cầu từ tháng 4/2000 đến tháng 2/2001.          Kết quả nghiên cứu: –        Về đặc điểm lâm sàng: Đa số gặp ở nam giới (nam/nữ»3,27/1). Nguyên nhân …

The post Đặc điểm lâm sàng và điều trị chấn thương nhãn cầu tại BVTW Huế appeared first on LÀNG NGHỀ HẢI VÂN.VN - làng nghề nhôm đúc, nhà gỗ, đồ gỗ.

]]>
Đối tượng nghiên cứu:

         Gồm 94 bệnh nhân điều trị nội trú tại Khoa mắt Bệnh viện Trung ương Huế với chẩn đoán là chấn thương nhãn cầu từ tháng 4/2000 đến tháng 2/2001.

         Kết quả nghiên cứu:

–        Về đặc điểm lâm sàng: Đa số gặp ở nam giới (nam/nữ»3,27/1). Nguyên nhân thường là các tai nạn sinh hoạt hàng ngày (52,2%), tiếp đó là các tai nạn xã hội và chất nổ (26,8%).

  • Đánh giá hiệu quả điều trị chấn thương nhãn cầu: Thị lực AS(-) chiếm 17,39%, thị lực từ AS(+) đến ĐNT<3m chiếm 22,83%, thị lực từ ĐNT 3m®3/10 chiếm 20,65%, thị lực từ 4/10 ®7/10 chiếm 20,65% và thị lực ³8/10 chiếm 18,48%.

Chấn thương nhãn cầu là một vấn đề cấp cứu nhãn khoa thường gặp và là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây mù loà ở nước ta và trên thế giới. Ở Mỹ, mỗi năm xảy ra khoảng 2,5 triệu chấn thương mắt, ở Đức tỷ lệ chấn chương mắt trong dân là 23,2/100.000 người.

Ở Việt Nam chấn thương mắt là vấn đề thời sự, có khoảng 20% các tai nạn dân sự bị chấn thương mắt. Ở bệnh viện Việt Nam – Ba Lan trong 2 năm (1991-1992) có 51,3% chấn thương mắt dẫn đến mù loà, Bệnh viện Điện Biên Phủ thành phố Hồ Chí Minh trong năm 1990, tỷ lệ này lên đến 70,99%, Phú Yên thì tỷ lệ mù loà do chấn thương mắt trong dân chúng chiếm 0,29%. Để góp phần trong công tác chẩn đoán – điều trị và phòng bệnh đạt hiệu quả và giảm tỷ lệ mù loà do chấn thương nhãn cầu gây nên, chúng tôi thực hiện đề tài “Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng và điều trị chấn thương nhãn cầu tại Bệnh viện Trung ương Huế”.

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP

1.      Đối tượng nghiên cứu:

Gồm những bệnh nhân chẩn đoán chấn thương nhãn cầu vào điều trị nội trú tại Khoa mắt Bệnh viện Trung ương Huế từ tháng 4/2000 đến tháng 2/2001.

2.      Các vấn đề nghiên cứu:

–        Hoàn cảnh và nguyên nhân xảy ra chấn thương.

–        Đánh giá thời gian từ lúc bị chấn thương đến lúc nhập viện.

–        Phân loạn chấn thương nhãn cầu.

–        Các hình thái tổn thương tại nhãn cầu.

–        Phương pháp xử trí chấn thương nhãn cầu.

–        Đánh giá chung về kết quả điều trị

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

1.      Phân loạn chấn thương theo giới tuổi:

Bảng 1: Phân loạn chấn thương theo giới và tuổi

Tuổi

Giới

<6 tuổi 6-18 19-60 >60 Tổng số Tỷ lệ
Nam 10 22 38 2 72 76.6%
Nữ 1 11 8 2 22 23,4%
Tổng số 11 33 46 4 94

Tỷ lệ

11,7% 35,1% 48,9% 100%

2.      Phân loại chấn thương theo nghề nghiệp:

Bảng 2: Phân loại chấn thương nhãn cầu theo nghề nghiệp

STT Nghề nghiệp Số trường hợp Tỷ lệ
1 Trẻ em nhỏ 11 11,7%
2 Học sinh, sinh viên 34 36,2%
3 Nông dân 31 32,95%
4 Công nhân 8 8,5%
5 Cán bộ công chức 6 6,4%
6 Thành phần khác 4 4,25%
Tổng số 94 100%

3.      Phân loại chấn thương theo địa dư:

Bảng 3: Phân loại chấn thương theo địa dư

STT
Chỗ ở
Số ca Tỷ lệ
1 Thành thị 34 36,2%
2 Nông thôn 90 63,8%
Tổng số 94 100%

4.      Nguyên nhân chấn thương theo hoàn cảnh và nguyên nhân:

Bảng 4: Phân loại chấn thương theo hoàn cảnh và nguyên nhân

STT Hoàn cảnh – nguyên nhân Số trường hợp Tỷ lệ
1 Tai nạn xảy ra trong sinh hoạt 49 52,2%
2 Tai nạn xã hội và chất nổ 25 26,6%
3 Tai nạn trong lao động công nghiệp 7 7,4%
4 Tai nạn trong lao động nông nghiệp 6 6,4%
5 Tai nạn giao thông 5 5,3%
6 Nguyên nhân khác 2 2,1%
Tổng số 94 100%

Tai nạn trong sinh hoạt chiếm tỷ lệ cao nhất (52,2%). Đáng chú ý là các tai nạn xã hội và chất nổ xếp hàng thứ hai có 25/94 ca chiếm 26,6% trong đó có 17 ca do đánh lộn, 5 ca bị bắn bằng cung tên, súng cao su vào mắt và 3 ca do mìn nổ. Tai nạn giao thông có 5 ca chiếm 5,3%, ngoài ra chúng tôi còn gặp 2 trường hợp do nguyên nhân đặc biệt là chim mổ và chó cắn vào mắt.

5.      Thời gian bị thương đến khi nhập viện:

Bảng 5: Thời gian từ lúc bị chấn thương đến lúc nhập viện:

STT Thời gian Số ca Tỷ lệ
1 Trước 24 giờ 53 56,4%
2 Từ 24 đến 72 giờ 13 13,8%
3 Sau 72 giờ đến 1 tuần 12 12,8%
4 Sau 1 tuần 16 17%
Tổng số 94 100%

6.      Các thể loại chấn thương phối hợp tại nhãn cầu:

Bảng 6: Các chấn thương phối hợp tại nhãn cầu

STT Các tổn thương

Số trường hợp

1 Rách kết mạc 14
2 Xuất huyết kết mạc 12
3 Rách thủng giác mạc 41
4 Rách thủng củng mạc 13
5 Tổn thương mống mắt 30
6 Xuất huyết tiền phòng 34
7 Sa lệch thể thuỷ tinh 9
8 Vỡ thủng thể dịch kính 6
9 Xuất huyết dịch kính 5
10 Phòi dịch kính 9
11 Tổn thương thị thần kinh 3

7.      Các thương tổn phối hợp:

Bảng 7: Các thương tổn phối hợp (n – 94)

TT Tổn thương phối hợp Số trường hợp Tỷ lệ
1 Mi mắt 27 28,7%
2 Lệ bộ 3 3,2%
3 Hốc mắt 6 6,4%
4 Các cơ quan khác 5 5,3%
Tổng số 41 43,6%

8.      Các phương pháp điều trị chấn thương nhãn cầu:

Bảng 8: Các phương pháp điều trị chấn thương nhãn cầu

TT Phương pháp xử trí Số ca Tỷ lệ
1 Điều trị nội khoa 36 38,3%
2 Điều trị ngoại khoa

* Mổ cấp cứu

* Mổ phiên

58

42/58

16/58

61,7%

(72,4%)

(27,6%)

Tổng số 94 100%

Phần lớn các trường hợp phải can thiệp ngoại khoa (58/94 ca chiếm 61,7%) trong đó có 42/58 trường hợp mổ cấp cứu, chiếm 72,4%.

9.      Phương pháp xử trí ngoại khoa:

Bảng 9: Phương pháp xử trí ngoại khoa

STT Điều trị ngoại khoa Số ca Tỷ lệ
1 Phục hồi giải phẫu và chức năng NC 46 79,3%
2 Khoét bỏ nhãn cầu 12 20,7%
Tổng số 58 100%

Có 46/58 trường hợp (79,3%) được mổ phục hồi giải phẫu và chức năng nhãn cầu, còn lại 12 ca (20,7%) phải khoét bỏ vì những biến chứng trầm trọng.

10.    Lý do khoét bỏ nhãn cầu:

Bảng 10: Lý do khoét bỏ nhãn cầu

STT Điều trị ngoại khoa Số ca Tỷ lệ
1 Phục hồi giải phẫu và chức năng NC 7 58,3%
2 Khoét bỏ nhãn cầu 2 16,7%
3 Teo nhãn cầu 3 25%
Tổng số 58 100%

11.    Kết quả thị lực trước và sau điều trị:

Bảng 11: Kết quả thị lực

Thị lực Lúc vào Lúc ra Sau 1 tuần Sau 1 tháng Sau 3 tháng
AS(-) 13 (14,13%) 13 (14,13%) 13 (14,13%) 16 (17,39%) 16 (17,39%)
AS(+) → ĐNT <3m 59 (64,13%) 21 (22,83%) 21 (22,83%) 21 (22,83%) 21 (22,83%)
ĐNT 3m → 3/10 11 (11,96%) 23 (25%) 19 (20,65%) 19 (20,65%) 19 (20,65%)
4/10 → 7/10 6 (6,52%) 22 (23,91%) 24 (26,1%) 19 (20,65%) 19 (20,65%)
 >= 8/10 3 (3,26%) 13 (14,13%) 15 (16,3%) 17 (18,48%) 17 (18,48%)
Tổng số 92 92 92 92 92

Tỷ lệ mù loà lúc nhập viện rất cao, có 72 ca chiếm 78,26%, khi ra viện chỉ còn 34 ca chiếm 36,96% nhưng sau xuất viện 3 tháng lại tăng lên 37 ca (40,22%).

Có 2 trường hợp không đo được thị lực vì còn quá nhỏ.

12.    Các biến chứng và di chứng:

Bảng 12: Các biến chứng và di chứng

STT Biến chứng – di chứng Số trường hợp
Biến chứng
1 Đục thể thuỷ tinh 28
2 Glôcôm thứ phát 10
3 Xuất huyết nội nhãn tái phát 1
4 Rò thuỷ dịch 3
5 Nhiễm trùng nội nhãn 8
Di chứng
6 Sẹo giác mạc, di chứng tại giác mạc 48
7 Dính mống mắt 9
8 Vẩn đục xơ hoá dịch kính 6
9 Bong hoặc thoái hoá võng mạc 7
10 Teo nhãn cầu 5

Di chứng gặp nhiều nhất là giác mạc (48/94 ca chiếm 51,1%) gồm có mờ đục rộng, sẹo xấu GM.

Biến chứng gặp nhiều nhất là đục thể thuỷ tinh gặp 28 ca chiếm 29,8%, sau đó đến glôcôm thứ phát gặp 10 ca (10,6%), dính mống mắt với mắt sau giác mạc hay với mặt trước thể thuỷ tinh gặp 9 ca (9,6%). Biến chứng nặng nhất là nhiễm trùng nội nhãn có 8 ca.

13.    Tình hình điều trị một số biến chứng – di chứng:

Bảng 13: Tình hình điều trị một số biến chứng – di chứng

STT Biến chứng – di chứng Số ca Phương pháp điều trị Số ca
1 Đục thuỷ tinh 28 Lấy – đặt TTT nhân tạo 11
2 Glôcôm 10 Điều trị nội khoa

Điều trị ngoại khoa

2

8

3 Xuất huyết nội nhãn 1 Điều trị nội khoa 1
4 Rò thuỷ dịch 3 Điều trị ngoại khoa 3
5 Dính mống mắt 9 Tách dính, tạo hình ĐT 5
6 Nhiễm trùng nội nhãn 8 Điều trị bảo tồn

Khoét bỏ nhãn cầu

6

2

7 Bong võng mạc 2 Phẫu thuật 1
Có 39,3% các trường hợp đục thể thuỷ tinh (11/28 ca) được phẫu thuật đặt thể thuỷ tinh nhân tạo và 10,7% (3/28 ca) được lấy thể thuỷ tinh đục nhưng không đặt thể thuỷ tinh nhân tạo.

 100% các trường hợp glôcôm được điều trị ngay sau khi phát hiện, có 20% điều trị nội khoa đơn thuần và 80% còn lại phải can thiệp ngoại khoa.

Có 1 trường hợp xuất huyết tiền phòng tái phát được điều trị ngoại khoa ổn định, 3 ca rò thuỷ dịch do hở vết thương đều được phẫu thuật khâu kín lỗ rò, chỉ có 5/9 trường hợp dính mống mắt được phẫu thuật tách dính và tạo hình đồng tử, số còn lại không xử trí gì.

Có 8 ca bị nhiễm trùng nội nhãn được điều trị bảo tồn 6 ca, chiếm 75% bao gồm dùng kháng sinh đường toàn thân, tại chỗ và cả tiêm vào dịch kính, có 2 ca phải khoét bỏ nhãn cầu, 1 ca bong VM được phẫu thuật ấn độn củng mạc, còn 1 ca do bong vùng hoàng điểm nên không có khả năng điều trị.

KẾT LUẬN

1.      Về đặc điểm lâm sàng:

Đa số gặp ở nam giới (nam/nữ»3,27/1), thường các tai nạn xảy ra trong các sinh hoạt hàng ngày (52,2%), tiếp đó là các tai nạn xã hội và chất nổ (26,8%).

2.         Đánh giá hiệu quả điều trị chấn thương nhãn cầu:

The post Đặc điểm lâm sàng và điều trị chấn thương nhãn cầu tại BVTW Huế appeared first on LÀNG NGHỀ HẢI VÂN.VN - làng nghề nhôm đúc, nhà gỗ, đồ gỗ.

]]>
Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng và điều trị sa, lệch thể thủy tinh do chấn thương đụng dập nhãn cầu https://langnghehaivan.vn/nghien-cuu-dac-diem-lam-sang-va-dieu-tri-sa-lech-the-thuy-tinh-do-chan-thuong-dung-dap-nhan-cau/ Mon, 03 Jan 2022 14:01:44 +0000 http://langnghehaivan.vn/?p=8222 Nghiên cứu trên nhóm 87 bệnh nhân bị sa lệch thể thuỷ tinh (TTT) do chấn thương nhằm tìm hiểu đặc điểm lâm sàng và nguyên tắc xử lí. Tác giả thấy rằng: sa lệch TTT là tổn thương thường gặp sau chấn thương đụng dập, ở lứa tuổi lao động, nam giới, do các …

The post Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng và điều trị sa, lệch thể thủy tinh do chấn thương đụng dập nhãn cầu appeared first on LÀNG NGHỀ HẢI VÂN.VN - làng nghề nhôm đúc, nhà gỗ, đồ gỗ.

]]>
Nghiên cứu trên nhóm 87 bệnh nhân bị sa lệch thể thuỷ tinh (TTT) do chấn thương nhằm tìm hiểu đặc điểm lâm sàng và nguyên tắc xử lí. Tác giả thấy rằng: sa lệch TTT là tổn thương thường gặp sau chấn thương đụng dập, ở lứa tuổi lao động, nam giới, do các tác nhân có đầu tù tác động trực tiếp vào nhãn cầu (94,3%). Hay gặp là lệch TTT (77%), vị trí tổn thương dây Zinn ở phía trên ngoài chiếm 59,8%, ở phía trong (phía mũi) chiếm 41,4%. Biến chứng do sa lệch TTT rất đa dạng: phù giác mạc (72,4%), viêm màng bồ đào (67,8%), tăng nhãn áp (36,8%), đục TTT (54%). Có rất nhiều phương pháp để điều trị và việc điều trị cũng gặp nhiều khó khăn, chức năng thị giác sau khi điều trị tăng không nhiều. Ngày nay máy cắt dịch kính  đã được sử dụng rộng rãi trong điều trị nên việc điều trị sa, lệch TTT đã có kết quả khả quan.

Sa, lệch thể thuỷ tinh (TTT) là tình trạng TTT di lệch ra khỏi vị trí giải phẫu bình thường, do nhiều nguyên nhân; có thể là triệu chứng trong một bệnh toàn thân, bẩm sinh, di truyền hay do chấn thương. Chấn thương là nguyên nhân hàng đầu gây sa, lệch TTT. Theo Arnaud B. và CS 1981: sa, lệch TTT sau chấn thương chiếm 1% số bệnh nhân vào viện và 4% trong số bệnh nhân chấn thương. Tiến triển thường nặng, gây nhiều biến chứng, để lại hậu quả trầm trọng có thể dẫn đến mù loà. Trong những thập kỷ gần đây với sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật, vi phẫu thuật đặc biệt là phẫu thuật dịch kính và kỹ thuật đặt TTT nhân tạo; tiên lượng của sa, lệch TTT đã có nhiều tiến bộ rõ rệt. Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng và điều trị sa, lệch TTT do chấn thương đụng dập nhãn cầu có mục tiêu: Tìm hiểu các hình thái lâm sàng sa, lệch TTT. Nhận xét  về các phương pháp điều trị cho từng hình thái.

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP

  1. Đối tượng:

Bệnh nhân bị sa, lệch TTT do chấn thương đụng dập điều trị tại khoa Chấn thương Viện Mắt Trung Ương từ  tháng 12 năm 2001 đến tháng 7 năm 2002.

2.      Phương pháp nghiên cứu:

2.1.   Khám lâm sàng: Lý do đến khám, hoàn cảnh chấn thương, tác nhân gây chấn thương, tính chất chấn thương, các triệu chứng ngay sau chấn thương. Thời gian đến viện sau chấn thương. Xử trí trước khi đến viện, phương pháp xử trí, kết quả sau xử trí…Tiền sử 2 mắt trước khi bị chấn thương. Khám bằng sinh hiển vi đèn khe đánh giá: Tổn thương giác mạc, tiền phòng, góc tiền phòng, mống mắt, đồng tử, TTT và tổn thương hệ thống dây Zinn. Đo thị lực, nhãn áp. Tra giãn đồng tử để khám. Soi kính 3 mặt gương. Đánh giá tình trạng dịch kính, võng mạc. Làm siêu âm, điện võng mạc.

2.2.   Xử trí :

        TTT ra tiền phòng, ở bờ đồng tử: lấy TTT cấp cứu, cắt mống mắt chu biên, cắt dịch kính trước. Nếu bệnh nhân đến muộn có dính góc phải cắt bè.

        TTT sa ra ngoài nhãn cầu: Lấy TTT + khâu vết thương.

        TTT sa vào dịch kính: điều trị nội khoa cho quá trình viêm ổn định. Phẫu thuật lấy TTT sa + cắt dịch kính. Cắt dịch kính + lấy TTT sa + cắt bè khi có tăng nhãn áp. Có thể kết hợp treo TTTNT.

–        TTT lệch, còn trong, không biến chứng điều trị nội khoa, theo dõi. Nếu có biến chứng tăng nhãn áp: cắt bè, cắt mống mắt chu biên.

–        TTT đục: lấy TTT ngoài bao, đặt TTT nhân tạo.

2.3.      Phương pháp đánh giá: Đánh giá các hình thái lâm sàng , đánh giá thị lực, đánh giá nhãn áp, đánh giá tổn thương phối hợp. Theo dõi sau khi ra viện sau 2 tuần, 1 tháng, 3 tháng, 6 tháng. So sánh kết quả giữa các lần khám. Số liệu được xử lý với chương trình Epi Info version 6.0.

KẾT QUẢ  VÀ BÀN LUẬN

  1. Đặc điểm lâm sàng theo tuổi và giới:

Hay gặp nhất là lứa tuổi trẻ từ 20 đến 40 (37 bệnh nhân chiếm 42,5%). Từ 41 đến 60 tuổi gặp 20 bệnh nhân chiếm 23%. Nam gặp nhiều hơn nữ: nam 85,1%; nữ 14,9%. Điều này phù hợp với số liệu của nhiều tác giả về tình trạng chấn thương hay ở trên người trẻ, nam giới. Dưới 20 tuổi gặp 16 ca lệch TTT, không gặp trường hợp nào sa TTT. Từ 20 đến 40 tuổi gặp 30 ca lệch TTT, 3 ca sa TTT vào buồng dịch kính, 2 ca sa TTT ở diện đồng tử và 2 ca sa TTT ra tiền phòng. Từ 41 đến 60 tuổi gặp 12 ca lệch TTT, 3 ca sa TTT vào buồng dịch kính, 2 ca TTT ở diện đồng tử và 3 ca sa TTT ra tiền phòng. Trên 60 tuổi gặp 9 ca lệch TTT, 3 ca sa TTT vào  dịch kính và 2 ca sa TTT ra tiền phòng.

2.      Tác nhân gây chấn thương:

Chủ yếu là chấn thương trực tiếp, có 82 bệnh nhân chiếm 94,3%. Chấn thương gián tiếp chỉ gặp ở 5 bệnh nhân, chiếm 5,7%. Chấn thương phần lớn là trong sinh hoạt.

3.      Các hình thái lâm sàng của sa, lệch TTT:

Bảng 3.1.Các hình thái sa, lệch thể thuỷ tinh

Hình thái

lâm sàng

Sa TTT Lệch TTT Tổng số
Ra tiền phòng ở bờ đồng tử Vào dịch kính Lệch ít Lệch nhiều
Số mắt 7 4 9 31 36 87
Tỷ lệ % 8 4,6 10,4 35,6 41,4 100

Hình thái hay gặp nhất là lệch TTT chiếm 77%. Trong đó lệch ít là 35,6%, lệch nhiều 41,4%. Sa TTT vào buồng dịch kính gặp 10,4%. Sa TTT ra tiền phòng là 8%. Sa TTT ở diện đồng tử gặp 4,6%. Theo B. Arnaud, G. Dupeyron tỷ lệ  lệch TTT là 50%.  Boudet C (1979) gặp 24/50 ca chiếm 48%. Theo B. Arnaud và cộng sự (1982) trong 85 trường hợp sa, lệch TTT có 42 ca lệch TTT. Theo Frenkel thì tất cả những trường hợp bị chấn thương mắt đều có một nửa bị sa, lệch TTT, ngay cả khi rất kín đáo do một phần của dây Zinn đã bị tổn thương sau chấn thương. Trên người trẻ, những sợi dây Zinn có thể đứt toàn bộ nhưng TTT vẫn có thể ở nguyên vị trí do có những dây chằng giữa bao sau TTT và màng Hyaloid.  Nguyễn Ngọc Trung (1991) nghiên cứu 39 ca sa, lệch TTT sau chấn thương tại Viện Mắt Trung Ương thấy lệch TTT là 34 ca chiếm 87,2%, sa TTT ra tiền phòng là 3 ca chiếm 7,7%, sa TTT vào buồng dịch kính là 2 ca chiếm 5,1%. Trần Thị Phương Thu (2001) nghiên cứu 40 ca sa, lệch TTT tại Trung tâm Mắt thành phố Hồ Chí Minh thấy lệch TTT là 21 ca chiếm 52,5%, ra tiền phòng là 10 ca chiếm 25%, sa vào buồng dịch kính là 9 ca chiếm 22,5%. Theo B. Arnaud và cộng sự (1982) trong 85 trường hợp sa, lệch TTT gặp 8 ca sa TTT ra trước chiếm 9,4%, 31 ca sa TTT ra sau chiếm 36,47%. Do dây Zinn bị đứt toàn bộ, rách màng Hyaloid trước, TTT rơi vào buồng dịch kính, nó có thể được dung nạp tốt nếu không có tổn thương bao TTT. Thậm chí, khi TTT đục nhiều nó vẫn có thể được giữ lại nhiều năm mà không gây biến chứng. Theo Suker, có thể dung nạp 30 năm. Theo Chanddler là 10 năm, Lorier và Crener là 20 năm, Phan Đức Khâm là 14 đến 20 năm. Tuy nhiên, cần phải theo dõi hết sức cẩn thận vì biến chứng có thể đến bất cứ lúc nào. Theo Nacciore, trong hình thái này tăng nhãn áp chiếm 10%, Boudet C gặp tỷ lệ tăng nhãn áp khá cao (10/18 ca).

4.      Hướng sa, lệch: Trên một mắt TTT có thể bị sa, lệch theo nhiều hướng khác nhau. Trong đó sa, lệch ra sau hay gặp nhất, thấy ở 70 mắt chiếm 80,5%. Sa, lệch xuống dưới gặp ở 37 mắt chiếm 42,5%. Sa, lệch lên trên ít gặp chỉ thấy ở 4 mắt chiếm 4,6%.

5.      Vị trí đứt Zinn: Trên một mắt dây Zinn có thể bị đứt ở nhiều vị trí khác nhau, có thể toàn bộ dây Zinn đều bị đứt. Trong đó hay gặp nhất là đứt ở vị trí trên ngoài, thấy ở 52 mắt chiếm 59,8%. Đứt dây Zinn phía trên trong gặp ở 47 mắt chiếm 54%, đứt ở phía trên và phía dưới ngoài gặp ở 45 mắt chiếm 51,7%, đứt toàn bộ dây Zinn ít gặp nhất chỉ thấy ở 20 mắt chiếm 23%.

6.      Sa, lệch và biến chứng:

Bảng 3.2. Sa, lệch TTT và biến chứng

Sa, lệch TTT Phù GM VMBĐ Tăng nhãn áp Đục TTT
Lệch ít (31) 25 (80,6%) 25 (80,6%) 11 (35,5%) 10 (32,3%)
Lệch nhiều (36) 24 (66,7%) 19 (52,8%) 13 (36,1%) 25 (69,4%)
Ở diện ĐT (4) 3 (75%) 2 (50%) 2 (50%) 2 (50%)
Tiền phòng  (7) 7 (100%) 7 (100%) 4 (57,1%) 4 (57,1%)
Vào DK (n=9) 4 (44,4%) 6 (66,7%) 1 (11,1%) 6 (66,7%)
Tổng số (87) 63 (72,4%) 59 (67,8%) 32 (36,8%) 47 (54%)

Phù giác mạc xảy ra ở tất cả các bệnh nhân sa TTT ra tiền phòng. Tỷ lệ phù giác mạc ở bệnh nhân lệch nhẹ TTT là 80,6%, lệch TTT nhiều là 66,7%. Tỷ lệ phù giác mạc ở bệnh nhân lệch TTT nói chung là 73,1%, sa TTT ở diện đồng tử là 75%, sa TTT vào buồng dịch kính là 44,4%. Do dịch kính tiếp xúc với nội mô giác mạc, do TTT nằm lâu trong tiền phòng hoặc do tăng nhãn áp làm cho giác mạc phù nề, tổn hại nội mô giác mạc. Nếu không được điều trị sẽ gây loạn dưỡng giác mạc.

–        Viêm MBĐ xảy ra ở tất cả các bệnh nhân bị sa TTT ra tiền phòng. Ở những bệnh nhân bị lệch nhẹ TTT thì tỷ lệ viêm MBĐ là 80,6%, bị lệch nhiều tỷ lệ viêm MBĐ là 52,8%, tỷ lệ  chung là 65,7%, sa TTT vào buồng DK tỷ lệ  là 66,7%, sa TTT ở diện đồng tử  là 50%.

–        Tăng nhãn áp xảy ra nhiều nhất ở hình thái sa TTT ra tiền phòng, có 4 ca chiếm 57,1%. Trong hình thái sa TTT ở diện đồng tử có 2 ca tăng nhãn áp, chiếm 50%. Trong 31 ca lệch nhẹ TTT có 11 ca tăng nhãn áp, chiếm 35,5%. Trong 36 ca lệch TTT nhiều có 13 ca tăng nhãn áp, chiếm 36,1%. Tỷ lệ tăng nhãn áp ở những bệnh nhân lệch TTT nói chung là 35,8%. Tăng nhãn áp ít xảy ra hơn ở hình thái sa TTT vào buồng dịch kính chỉ có 11,1%. Trong số 36 ca TTT bị lệch nhiều có 25 ca đục TTT, chiếm 69,4%. Boudet. C (1979) gặp 7 ca tăng nhãn áp trong 24 ca sa, lệch TTT chiếm 29,17%. Nhãn áp có thể tăng ngay sau chấn thương hoặc từ từ trong thời gian rất lâu. Nhãn áp có thể bình thường trong nhiều tuần sau đó tăng đột, do đó cần phải theo dõi nhãn áp thường xuyên. Arnaud (1982) gặp 31 ca tăng nhãn áp trong số 85 ca sa, lệch TTT. Trong đó 30% trong số các ca lệch TTT, 50% trong các ca sa TTT ra sau, 80% trong các ca sa TTT ra trước. Theo G. E. Venger (1987) tăng nhãn áp gặp trong 20% các trường hợp đục, lệch TTT sau chấn thương. Nguyễn Văn Vấn (1997) nghiên cứu 60 ca tăng nhãn áp sau chấn thương đụng dập gặp 2 ca do sa TTT, 26 ca do lệch TTT.

Robert – Ritch (1996) chia nguyên nhân tăng nhãn áp trong sa, lệch TTT thành hai nhóm có và không liên quan đến TTT:

*       Nhóm liên quan đến TTT: Nghẽn đồng tử bởi TTT. Nghẽn đồng tử bởi dịch kính. Nghẽn đồng tử bởi TTT và dịch kính. TTT ra tiền phòng gây nghẽn đồng tử và nghẽn góc. Glôcôm do tiêu TTT. Glôcôm do những đợt đóng góc: TTT lệch nhô ra trước làm tăng diện tiếp xúc của TTT với mặt sau mống mắt gây nghẽn đồng tử thứ phát, thuỷ dịch ứ đọng ở hậu phòng đẩy mống mắt chu biên ra trước dẫn đến tiền phòng nông gây đóng góc. Nếu trạng thái này kéo dài và lặp lại sẽ dẫn đến tổn hại vùng bè hoặc gây dính góc .

*       Nhóm không liên quan đến TTT: Lùi góc. Bất thường góc tiền phòng. Trùng với glôcôm góc mở mạn tính. Các dạng glôcôm khác như: glôcôm do hồng cầu chết “Ghost – Cell Glaucoma”, glôcôm do tiêu máu, glôcôm tân mạch. Theo Ph. Demailly  có nhiều nguyên nhân gây tăng nhãn áp nhưng phần lớn là do nghẽn đồng tử thứ phát vì: TTT sa ra trước gây nghẽn đồng tử và nghẽn góc. TTT bán lệch ra trước, dịch kính trào ra gây nghẽn đồng tử. TTT sa vào buồng dịch kính, nút dịch kính hình nấm gây nghẽn  đồng tử. Dây chằng Zinn bị giãn làm TTT nhô ra trước, tạo bệnh cảnh điển hình của glôcôm góc đóng thứ phát. Một số trường hợp phản ứng màng bồ đào có thể gây tăng nhãn áp  hoặc kết hợp với các cơ chế trên. Theo Gundorova ngoài những yếu tố trên thì kích thích cơ học của TTT lệch lên thể mi cũng gây tăng tiết thuỷ dịch. Pashtaev cho rằng TTT sa vào buồng dịch kính gây biến đổi cấu trúc dịch kính, thay đổi lưu thông dịch của dịch kính là nguyên nhân dẫn đến tăng nhãn áp. Volkov và cộng sự (1996) đề cập đến đặc điểm sinh cơ học của sự tác động lẫn nhau giữa điều tiết và dẫn lưu thuỷ dịch: cả hai chức năng này được thực hiện đều nhờ vào hoạt động của cơ thể mi, tính đàn hồi của màng bồ đào, bao của TTT và vùng bè. Tác giả cho rằng lệch TTT không chỉ gây loạn thị do TTT mà còn dẫn đến sự thay đổi trương lực cơ thể mi nhằm điều chỉnh loạn thị. Điều này đồng thời làm thay đổi dẫn lưu thuỷ dịch và là tiền đề cho bệnh glôcôm.

–        Trong số 31 ca TTT bị lệch nhẹ có 10 ca bị đục TTT, chiếm 32,3%. Tỷ lệ đục TTT  trong số bệnh nhân lệch TTT nói chung là 52,2%. Trong số 9 ca TTT sa vào buồng dịch kính có 6 ca bị đục TTT, chiếm 66,7%. Trong số 7 ca TTT sa ra tiền phòng có 4 ca bị đục TTT, chiếm 57,1%. Có 2 trong số 4 ca TTT sa ở diện đồng tử bị đục TTT, chiếm 50%. Nhãn cầu chứa nhiều chất dịch gây sức ép được truyền theo các hướng vào TTT, gây thương tổn ở biểu mô bao TTT, các thớ TTT và gây đục TTT dưới nhiều hình thái: đục dưới bao, đục hình cánh hoa hồng, đục hình vòng hoặc đục lan toả. Kutschera và Ebner (1964) gặp 32% đục TTT trong 144 ca sa, lệch TTT. Boudet. C gặp 50% đục TTT trong các ca bị sa, lệch TTT. Arnaud (1982) gặp 27 ca đục TTT trong số 85 ca bị sa, lệch TTT, trong đó 40% trong số các ca lệch TTT và 20% trong số các ca sa TTT ra sau. Ngoài ra khi TTT lệch sẽ ảnh hưởng đến dinh dưỡng của TTT có thể gây đục TTT.

7.     Các tổn thương phối hợp:

Trên một mắt bị sa, lệch TTT do chấn thương đụng dập nhãn cầu có thể gặp nhiều tổn thương phối hợp. Trong đó: giãn đồng tử là hay gặp nhất, thấy ở 82 trường hợp chiếm 94,3%. Lùi góc tiền phòng gặp ở 66 trường hợp chiếm 75,9%. Phù, trợt giác mạc gặp ở 63 trường hợp chiếm 72,4%. Phù võng mạc gặp ở 51 trường hợp chiếm 58,6%. Xuất huyết tiền phòng gặp 26 ca chiếm 29,9%. Xuất huyết dịch kính gặp 25 ca chiếm 28,7%. Rách da mi gặp 16 ca chiếm 18,4%. Đứt chân mống mắt gặp 14 ca chiếm 16,1%. Tách thể mi gặp 13 ca chiếm 14,9%. Xuất huyết võng mạc gặp 10 ca chiếm 11,5%. Ngoài ra còn gặp các tổn thương khác như: đứt lệ quản, sụp mi, rách bờ đồng tử, dính góc, lỗ hoàng điểm, rách võng mạc, bong võng mạc, teo gai thị… và có 18 trường hợp không soi được góc do TTT sa ra tiền phòng, diện đồng tử, TTT lệch ra trước đẩy chân mống mắt áp vào giác mạc… hoặc do xuất huyết tiền phòng quá nhiều.

8.      Phương pháp điều trị:

Trong tổng số 87 bệnh nhân được nghiên cứu chúng tôi thấy: có 28 trường hợp được điều trị nội khoa chiếm tỷ lệ 32,2%, còn lại 59 trường hợp phải can thiệp ngoại khoa chiếm 67,8%.Trong đó: cắt bè là 11 ca, chiếm 18,6%, lấy TTT trong bao + cắt dịch kính là 9 ca, chiếm 15,3%, lấy TTT trong bao + cắt dịch kính + treo TTT nhân tạo là 9 ca chiếm 15,3%, cắt bè + lấy TTT trong bao + cắt dịch kính là 5 ca, chiếm 8,5%, cắt bè + lấy TTT trong bao + cắt dịch kính là 4 ca, chiếm 6,8%, lấy TTT trong bao + cắt dịch kính, khâu chân mống mắt là 3 ca, chiếm 5,1%, lấy TTT ngoài bao + đặt TTT nhân tạo là 3 ca, chiếm 5,1%. Các phương pháp phẫu thuật khác như: cắt dịch kính tiền phòng, cắt TTT + cắt dịch kính, lấy TTT + cắt dịch kính + đai củng mạc + bơm dầu nội nhãn… cũng được chúng tôi áp dụng để điều trị. Có tất cả 23 trường hợp phải cắt bè, 41 trường hợp phải lấy TTT, 39 trường hợp phải cắt dịch kính và 17 trường hợp đặt được TTT nhân tạo trong bao hoặc cố định vào củng mạc. Ngoài ra còn 6 trường hợp phải khâu da mi và 5 trường hợp nối lệ quản.

9.      Kết quả điều trị:

9.1. Thị lực:

Bảng 3.3. Đặc điểm thị lực trước và sau điều trị

Thị lực Vào Ra Sau 3 tháng Sau 6 tháng
ST(-) 1 (1,1%) 1 (1,1%) 1 (1,1%) 1 (1,7%)
ST(+) đến 0,02 61 (70,1%) 23 (26,4%) 14 (16,1%) 12 (20%)
0,02 đến 0,05 12 (13,8%) 21 (24,1%) 12 (13,8%) 6 (10%)
0,05 đến <0,1 4 (4,6%) 8 (9,2%) 13 (14,9%) 7 (11,7%)
0,1 đến 0,3 6 (6,9%) 21 (24,1%) 23 (26,4%) 17 (28,3%)
0,3 đến 0,6 2 (2,3%) 9 (10,3%) 10 (11,5%) 7 (11,7%)
Trên 0,6 1 (1,1%) 4 (4,6%) 14 (16,1%) 10 (16,7%)
Tổng số 87 (100%) 87 (100%) 87 (100%) 60 (100%)

Lúc vào số bệnh nhân có thị lực từ ST(+) đến ĐNT 1m là 61 bệnh nhân chiếm 70,1%, từ ĐNT 1m đến ĐNT 3m là 12 bệnh nhân chiếm 13,8%, từ 0,1 đến 0,3 là 6 bệnh nhân chiếm 6,9%, từ 0,3 đến 0,6 là 2 bệnh nhân chiếm 2,3%, chỉ có 1 bệnh nhân có thị lực trên 0,6 chiếm 1,1%. Khi ra viện chỉ còn 23 bệnh nhân có thị lực từ ST(+) đến 0.02 chiếm 26,4%, từ 0,02 đến 0,05 là 22 bệnh nhân chiếm 25,3%, từ 0,1 đến 0,3 là 20 bệnh nhân chiếm 23%, từ 0,3 đến 0,6 là 9 bệnh nhân chiếm 10,3%, trên 0,6 là 4 bệnh nhân chiếm 4,6%. Sau 3 tháng số bệnh nhân có thị lực từ ST(+) đến 0,02 là 14 chiếm 16,1% từ 0,02 đến 0,05 là 12 bệnh nhân chiếm 13,8%, từ 0,1 đến 0,3 là 23 bệnh nhân chiếm 26,4%, từ 0,3 đến 0,6 là 10 bệnh nhân chiếm 11,5%, trên 0,6 là 14 bệnh nhân chiếm 16,1%. Sau 6 tháng số bệnh nhân có thị lực từ ST(+) đến 0,02 là 12 chiếm 20%, từ  ĐNT 1m đến  ĐNT 3m  là 6 bệnh nhân chiếm 10%, từ 0,1 đến 0,3 là 17 bệnh nhân chiếm 28,3%, từ 0,3 đến 0,6 là 7 bệnh nhân chiếm 11,7%, trên 0,6 là 10 bệnh nhân chiếm 16,7%.

9.2.   Nhãn áp:

Bảng 3.4. Kết quả nhãn áp trước và sau khi điều trị

Nhãn áp Vào Ra Sau 3 tháng Sau 6 tháng
<15 mmHg 5 (5,7%) 5 (5,7%) 0 (0%) 0 (0%)
15- 24mmHg 50 (57,5%) 81 (93,1%) 87 (100%) 60 (100%)
Trên24mmHg 32 (36,8%) 1 (1,1%) 0 (0%) 0 (0%)
Tổng số 87 (100%) 87 (1005) 87 (100%) 60 (100%)

 

Lúc vào viện số bệnh nhân bị tăng nhãn áp là 32 chiếm 36,8%. Sau khi ra viện vẫn còn 1 bệnh nhân bị tăng nhãn áp chiếm 1,1%, bệnh nhân này chúng tôi tiếp tục cấp đơn điều trị nội khoa và theo dõi. Lúc vào viện số bệnh nhân có nhãn áp nằm trong giới hạn bình thường là 50 bệnh nhân chiếm 57,5%, ra viện là 81 bệnh nhân chiếm 93,1%. Sau 3 tháng là 87 bệnh nhân chiếm 100%. Sau 6 tháng là 60 bệnh nhân chiếm 100%. Lúc vào viện số bệnh nhân có nhãn áp dưới 15mmHg là 5 bệnh nhân chiếm 5,7%, sau khi ra viện số này cũng là 5 bệnh nhân chiếm 5,7%. Sau 3 tháng và 6 tháng không còn bệnh nhân nào nhãn áp bị thấp.

KẾT LUẬN

         Tính chất của sa, lệch TTT do chấn thương đụng dập nhãn cầu: Là một trong những tổn thương khá thường gặp sau chấn thương đụng dập. Hay gặp ở lứa tuổi lao động, nam gặp nhiều hơn nữ, thường là do các tác nhân có đầu tù tác động trực tiếp vào nhãn cầu (94,3%). Tổn thương thường rất nặng, để lại hậu quả là thị lực bị tổn hại trầm trọng. Các hình thái lâm sàng rất đa dạng và phức tạp. Hay gặp là lệch TTT, chiếm tỷ lệ cao (77%), còn lại là các hình thái sa TTT khác nhau, chúng tôi không gặp hình thái sa ra ngoài nhãn cầu. Vị trí tổn thương dây Zinn hay gặp ở phía trên ngoài (59,8%), ít gặp ở phía trong (phía mũi)   (41,4%)

         Biến chứng và các phương pháp điều trị: Trên một mắt bị sa, lệch TTT do chấn thương đụng dập nhãn cầu có thể gặp một hoặc nhiều biến chứng khác nhau: phù giác mạc (72,4%), viêm màng bồ đào (67,8%), tăng nhãn áp (36,8%), đục TTT (54%). Các biến chứng này có thể là do bản thân TTT bị sa, lệch hoặc do chấn thương đụng dập gây nên, hoặc phối hợp. Các biến chứng và các tổn thương phối hợp thường gặp và nặng nề. Có rất nhiều phương pháp để điều trị và việc điều trị cũng gặp nhiều khó khăn, chức năng thị giác sau khi điều trị tăng không nhiều. Ngày nay máy cắt dịch kính  đã được sử dụng rộng rãi trong điều trị nên việc điều trị sa, lệch TTT đã có kết quả khả quan.

TÀI LIỆU THAM KHẢO:

1.      BURILLON C, GAIN PH: “Traumatologie du segment anterieur de Lloeil”. Edition  technique – Encycl. Med. Chir., (Paris, France). Ophtalmologie, 21-700-A-10.4; 1993.

2.      RIGAL – SASTOURNE J. CL., MAILLE M., CASTELLI PH. ET AL: “Interêt des perfluorocarbones liquides dans le traitement chirurgical de la luxation postérieure du cristallin post contusive”  – Bull. Soc. Ophtalmol. Fr.; 6-7;1994

3.      FRED M.W: “Traumatic lens subluxation”. Basic and clinical science course 10; 165; 1992-1993.

4.      JAFFE N. S., JAFFE M.S., JAFFE G. F.: “Lens displacement. Cataract Surgery and its Complications”- Mosby; 200-212; 1997.

5.      POLLET B., DRALANDS L., FOETS B.: “Management of posteriorly dislocated cristallin lenses or lens fragments”. Bull Soc. Belge Ophtalmol.: 257; 33-38; 1995.

The post Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng và điều trị sa, lệch thể thủy tinh do chấn thương đụng dập nhãn cầu appeared first on LÀNG NGHỀ HẢI VÂN.VN - làng nghề nhôm đúc, nhà gỗ, đồ gỗ.

]]>
Các yếu tố nguy cơ ảnh hưởng đến sự tổn hại tiến triển của glôcôm góc mở nguyên phát https://langnghehaivan.vn/cac-yeu-to-nguy-co-anh-huong-den-su-ton-hai-tien-trien-cua-glocom-goc-mo-nguyen-phat/ Mon, 03 Jan 2022 13:55:14 +0000 http://langnghehaivan.vn/?p=8218 Người dịch: Nguyễn Hà Thanh* *Bệnh viện Mắt trung ương (Risk factors for primary open angle glaucoma progression: what we know and what we need to know) (Theo: Current Opinion in Ophthalmology, 2008, 19:102-106) Jorge L.Rivera, Nicholas P. Bell and Robert M. Feldman** **Robert Cizik Eye Clinic, University of Texas Health Science Center, Houston, Texas, USA Glôcôm …

The post Các yếu tố nguy cơ ảnh hưởng đến sự tổn hại tiến triển của glôcôm góc mở nguyên phát appeared first on LÀNG NGHỀ HẢI VÂN.VN - làng nghề nhôm đúc, nhà gỗ, đồ gỗ.

]]>
Người dịch: Nguyễn Hà Thanh*

*Bệnh viện Mắt trung ương

(Risk factors for primary open angle glaucoma progression:

what we know and what we need to know)

(Theo: Current Opinion in Ophthalmology, 2008, 19:102-106)

Jorge L.Rivera, Nicholas P. Bell and Robert M. Feldman**

**Robert Cizik Eye Clinic, University of Texas Health Science Center, Houston, Texas, USA

Glôcôm góc mở đang là vấn đề được nhiều nghiên cứu đề cập tới bởi vì tỷ lệ của căn bệnh này ngày càng gia tăng, hậu quả gây mù cũng tăng lên. Tác nhân gây bệnh phức tạp, khó kiểm soát. Gần đây, nhiều nghiên cứu đưa ra các yếu tố gây thúc đẩy tiến trình của bệnh đó là nhãn áp, cấu trúc nhãn cầu, bệnh mạch máu và gen. Tuy nhiên, việc xác định và hạn chế được những yếu tố trên vẫn còn là vấn đề phức tạp.  

Hiện nay, căn bệnh glôcôm góc mở nguyên phát là một vấn đề sức khỏe cộng đồng, điều này đã được nhiều tài liệu đề cập tới. Tại Mỹ, ít nhất có 2.250.000 người hiện đang phải chịu đựng căn bệnh này, có khoảng từ 84.000 đến 116.000 người mù hai mắt do glôcôm. Theo dõi trong 20 năm thì tỷ lệ này tăng thêm 9% (1). Theo Kwon (6), sau 22 năm tỷ lệ mù một mắt tăng thêm 19%.

Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), ước tính mỗi năm có thêm 2400000 người được chẩn đoán glôcôm góc mở nguyên phát. Tỷ lệ mù do tất cả các phân loại glôcôm là 5.200.000 người, do glôcôm góc mở nguyên phát là 3.000.000 người.

Glôcôm thực sự đang là căn bệnh gây mù không thể hồi phục trên toàn thế giới.

Glôcôm góc mở nguyên phát thường được phát hiện khi bệnh đã ở giai đoạn muộn, đã có tổn hại thị trường bởi vì bệnh thường diễn biến âm thầm không có triệu chứng rõ rệt. Khi phát hiện bệnh nếu  không điều trị kịp thời có thể dẫn tới mù lòa. Nhiều bệnh nhân mặc dù không có suy giảm thị lực nhưng thị trường vẫn tiếp tục bị tổn hại.

Gần đây, nhiều nghiên cứu cho thấy cho dù đã được điều trị nhưng bệnh vẫn tiếp tục tổn hại nặng thêm. Tiến triển bệnh của riêng từng bệnh nhân cũng khác nhau dù quá trình điều trị là như nhau.

1. Nhãn áp

Nhãn áp được xem là yếu tố nguy cơ trong tiến triển của bệnh. Việc theo dõi nhãn áp là rất quan trọng trong theo dõi tiến triển bệnh. Nhãn áp được hạ thấp làm giảm nguy cơ tổn hại tiến triển. Ngay cả những bệnh nhân đã được điều trị bằng thuốc hay phẫu thuật, nhãn áp vẫn là yếu tố nguy cơ hàng đầu  gây tiến triển bệnh glôcôm. Sau mổ cắt bè, những trường hợp nhãn áp sau phẫu thuật hạ thấp cũng làm giảm nguy cơ tổn hại hơn là những trường hợp nhãn áp sau phẫu thuật cao. Những thay đổi có thể là rất nhỏ của chỉ số nhãn áp cũng là nguy cơ tiến triển bệnh glôcôm, khi nhãn áp tăng 1mmHg thì nguy cơ tiến triển bệnh glôcôm là 11%. Do đó, việc điều trị hạ nhãn áp là rất cần thiết nhằm giảm tiến triển bệnh. Tuy nhiên, nhãn áp được hạ tới mức nào còn tuỳ thuộc vào giai đoạn bệnh, vào từng bệnh nhân.

Dao động nhãn áp có được xem là yếu tố nguy cơ ảnh hưởng đến tổn hại tiến triển của glôcôm hay không đang là vấn đề được bàn cãi. Một số nghiên cứu cho rằng dao động nhãn áp chỉ là yếu tố nguy cơ trước khi bệnh được phát hiện và điều trị, còn sau khi đã phát hiện bệnh, nhãn áp đã được kiểm soát thì dao động nhãn áp không được xem là yếu tố nguy cơ. Tuy nhiên, các nghiên cứu khác lại cho rằng dao động nhãn áp luôn là yếu tố nguy cơ làm bệnh nặng thêm bởi vì  tại những thời điểm nhãn áp cao mà không được phát hiện và điều trị kịp thời sẽ gây tổn hại tiến triển của bệnh.

2. Độ dày giác mạc trung tâm (central corneal thickness –CCT )

Nhiều nghiên cứu gần đây cho rằng CCT là một yếu tố nguy cơ quan trọng trong chẩn đoán hơn là trong đánh giá tiến triển của glụcụm gúc mở nguyên phỏt. Mỗi thay đổi dù là rất nhỏ của CCT cũng dẫn đến thay đổi của nhãn áp. Khi giác mạc trung tâm mỏng thì chỉ số nhãn áp đo được thấp hơn nhãn áp thực sự. Những trường hợp glôcôm nguyên phát mãn tính đã có tổn hại thị trường tiến triển đôi khi vẫn không được phát hiện khi kèm theo giác mạc trung tâm mỏng do đó CCT trong trường hợp này là nguy cơ của tiến triển glôcôm.

3. Cấu trúc nhãn cầu

Ngoài độ dày giác mạc trung tâm, nhiều năm qua, mối liên quan giữa tiến triển của glôcôm và cấu trúc nhãn cầu đã được nghiên cứu. Trục nhãn cầu trên bệnh nhân cận thị cũng là yếu tố nguy cơ tiến triển của glôcôm góc mở.

4. Các yếu tố mạch máu

Mạch máu và các thành phần trong máu cũng là một yếu tố liên quan đến tiến triển của glôcôm góc mở. Tốc độ dòng chảy của động mạch trung tâm võng mạc giảm, độ nhớt của máu tăng, tính đàn hồi thành mạch giảm cũng là những yếu tố nguy cơ tác động rõ rệt lên tổn hại của glôcôm. Những bệnh nhân có bệnh tim mạch, đái tháo đường là nhóm có những nguy cơ trên.

5. Gen 

Gen được xem là yếu tố quan trọng trong tiến triển của glôcôm góc mở nguyên phát. Các nghiên cứu về gen và kỹ thuật sinh học đã được nghiên cứu từ nhiều năm nay, nó được coi như chất chỉ điểm của bệnh. Một nghiên cứu gần đây chỉ ra rằng những bệnh nhân có OPA1 IVS8+32C thường có biểu hiện glôcôm, khác với những người không có gen này thì không có biểu hiện bệnh, sự khác biệt này có nghĩa thống kê. Nghiên cứu này còn chỉ ra rằng yếu tố này còn có ở cả những bệnh nhân chỉ có tổn hại thị trường mà không có nhãn áp cao. Nghiên cứu khác còn chỉ ra rằng đột biến ADN gây ra giảm quá trình hô hấp của các tế bào ở hắc mạc cũng liên quan đến      glôcôm góc mở. Nolan (13) gợi ý rằng chất chỉ điểm sinh học tiềm tàng cho sự tổn hại thị trường còn là sự tập trung của sCD44 trong thủy dịch. Wu (14) báo cáo rằng những bệnh nhân có người ruột thịt bị glôcôm thì nguy cơ bị glôcôm cũng tăng lên. Những nghiên cứu trên cho thấy không còn nghi ngờ về vai trò của gen trong tiến triển của glôcôm.

6. Kết luận

Gần đây có rất nhiều nghiên cứu về những yếu tố nguy cơ gây tổn hại tiến triển của glôcôm góc mở nguyên phát. Nhưng việc phân ra được mức độ nguy hại của từng yếu tố, phát hiện được yếu tố nào có ảnh hưởng lớn nhất vẫn chưa được sáng tỏ. Tìm hiểu về yếu tố nguy cơ tiến triển glôcôm, chúng ta có thể cải thiện tình trạng của bệnh, làm chậm và ngăn chặn được mù lòa. Ảnh hưởng của các yếu tố đối với riêng từng bệnh nhân là khác nhau. Do đó việc phát hiện được yếu tố nguy cơ nào có ảnh hưởng nhiều nhất để điều chỉnh phác đồ điều trị nhằm hạn chế được tiến triển của bệnh là rất cần thiết.

The post Các yếu tố nguy cơ ảnh hưởng đến sự tổn hại tiến triển của glôcôm góc mở nguyên phát appeared first on LÀNG NGHỀ HẢI VÂN.VN - làng nghề nhôm đúc, nhà gỗ, đồ gỗ.

]]>
Kết quả về giải phẫu và chức năng sau cắt bỏ ung thư mi và tạo hình mi https://langnghehaivan.vn/ket-qua-ve-giai-phau-va-chuc-nang-sau-cat-bo-ung-thu-mi-va-tao-hinh-mi/ Mon, 03 Jan 2022 13:52:50 +0000 http://langnghehaivan.vn/?p=8215 Mục tiêu: đánh giá kết quả về giải phẫu và chức năng của mi sau cắt bỏ ung thư mi và tạo hình mi bằng phương pháp sử dụng sụn kết mạc, thời gian theo dõi sau 2 năm. Phương pháp nghiên cứu: can thiệp lâm sàng, các bệnh nhân (BN) ung thư mi được …

The post Kết quả về giải phẫu và chức năng sau cắt bỏ ung thư mi và tạo hình mi appeared first on LÀNG NGHỀ HẢI VÂN.VN - làng nghề nhôm đúc, nhà gỗ, đồ gỗ.

]]>
Mục tiêu: đánh giá kết quả về giải phẫu và chức năng của mi sau cắt bỏ ung thư mi và tạo hình mi bằng phương pháp sử dụng sụn kết mạc, thời gian theo dõi sau 2 năm.

Phương pháp nghiên cứu: can thiệp lâm sàng, các bệnh nhân (BN) ung thư mi được điều trị tại khoa Chấn thương- Bệnh viện Mắt Trung ương. Số liệu bao gồm các thông số của BN như: tuổi, giới, kết quả giải phẫu bệnh, vị trí, kích thước của khối u, kích thước của tổn thương mi sau khi cắt bỏ khối ung thư, màu sắc và sự liền sẹo, bờ mi, các góc mi, chức năng nhắm và mở của mi.

Kết quả: 78 BN (35 nam và 43 nữ) được phẫu thuật và theo dõi trong 2 năm. Về giải phẫu, da mi liền tốt chiếm 98,4%, 1 trường hợp da mi tạo sẹo co kéo gây biến dạng mi (1,6%), 69 BN có bờ tự do của mi được kết mạc phủ tốt (88,4%), bờ tự do của mi bị biến dạng chiếm 11,6%, độ rộng của khe mi tốt, đều so với mắt lành là 96,2%. Góc ngoài và góc trong đẹp chiếm 94,8%. Chức năng nhắm mắt của mi, mắt nhắm kín tốt 71 BN (91%). Chức năng mở mắt của mi, mắt mở tốt, đều so với bên lành là 64 BN ( 82,1%). 3 trường hợp tái phát u.

Kết luận: kết quả đạt được bằng phẫu thuật đối với điều trị ung thư mi cho kết quả khả quan về giải phẫu và chức năng của mi.

Từ khoá: ung thư mi, khuyết mi, hở mi, sụp mi.

I. ĐẶT VẤN ĐỀ

Ung thư mi mắt là một bệnh hay gặp trên lâm sàng. Các loại ung thư hay gặp là ung thư biểu mô tế bào đáy, ung thư biểu mô tế bào vảy, ung thư biểu mô tuyến bã nhờn và u hắc tố ác tính. Các khối u khi phát triển xâm lấn tổ chức mi, bờ tự do của mi, lan vào tổ chức xung quanh [2]. Phương pháp điều trị chủ yếu hiện nay là phẫu thuật. Phẫu thuật nhằm cắt bỏ khối ung thư và tạo hình mi. Phẫu thuật cắt bỏ khối u đòi hỏi phải cắt hết được khối u đến tổ chức lành. Tuy nhiên, nếu cắt bỏ khối u quá rộng sẽ gây khó khăn cho việc tạo hình mi, phục hồi lại mi sau đó. Để tiết kiệm được mô lành trên thế giới áp dụng nhiều phương pháp để vừa đảm bảo cắt hết tổ chức u, vừa bảo tồn được mô lành như phương pháp vi phẫu thuật Mohs hay sinh thiết lạnh [4]. Trong nghiên cứu này chúng tôi tiến hành cắt khối ung thư mi có kiểm soát bờ mép cắt bằng sinh thiết nhanh. Sau đó tiến hành tạo hình mi nhằm phục hồi được giải phẫu của mi. Để đánh giá được chức năng và thẩm mỹ của mi sau cắt bỏ ung thư mi, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đánh giá giải phẫu và chức năng của mi sau cắt bỏ ung thư mi và tạo hình mi.

Mục tiêu của nghiên cứu:

  1. Đánh giá kết quả về giải phẫu và chức năng của mi
  2. Đánh giá những biến chứng của phẫu thuật.

II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP

1. Đối tượng

78 BN ung thư mi được tiến hành chẩn đoán, phẫu thuật và đánh giá tại khoa chấn thương- Bệnh viện Mắt Trung ương, thời gian theo dõi 24 tháng, từ tháng 1/ 2006 đến tháng 6/ 2009.

Những BN ung thư mi bao gồm ung thư biểu mô tế bào đáy, ung thư biểu mô tuyến bã, ung thư biểu mô tế bào vảy có chỉ định phẫu thuật, khối u xâm lấn bờ mi đòi hỏi phải cắt toàn bộ chiều dày của mi.

BN được khám và đánh giá trước phẫu thuật, khám khối u, vị trí khối u, đo kích thước khối u, đánh giá mức độ xâm lấn của khối u trên lâm sàng, chụp ảnh trước phẫu thuật, có kết quả mô bệnh học.

Phẫu thuật cắt bỏ khối ung thư có kiểm soát mép cắt xem đã cắt tới tổ chức lành chưa. Phẫu thuật tạo hình mi ở thì 2, sử dụng vạt hoặc mảnh sụn kết mạc để tạo hình vùng khuyết mi cho mặt sau của mi, ở mặt da chúng tôi tiến hành ghép da rời hoặc chuyển vạt da.

Các tổn thương được đánh giá theo vị trí của khối u, kích thước của khối u, độ lớn của tổn thương mi sau khi đã cắt bỏ khối u.

Trong nghiên cứu này, để đánh giá giải phẫu và chức năng của mi, chúng tôi phân mức độ tổn thương khuyết mi sau khi đã cắt bỏ ung thư mi thành các mức độ tổn thương dưới 6mm, từ 6 đến 15mm và trên 15mm.

Đánh giá kết quả sau phẫu thuật: sẹo sau phẫu thuật, màu sắc của da ghép, bờ tự do của mi, độ mở của khe mi, chiều rộng của mi, khả năng nhắm mở của mi. Những biến chứng như: quặm, lật mi, lông xiêu, hở mi, tái phát u.

2. Phương pháp: nghiên cứu can thiệp lâm sàng, mô tả cắt ngang.

III. KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN

78 mắt bị ung thư mi của 78 BN (35 nam và 43 nữ) được tiến hành phẫu thuật cắt bỏ ung thư mi, chẩn đoán mô bệnh học, kiểm soát bờ mép cắt và tạo hình mi. Tuổi của BN từ 29 đến 87, trung bình là: 64 ± 12. Có 75 khối u nguyên phát (96%) và 3 khối u tái phát (4%). Các loại ung thư mi gặp trên nghiên cứu là ung thư biểu mô tế bào đáy, ung thư biểu mô tuyến bã, ung thư biểu mô tế bào vảy và 1 trường hợp ung thư biểu mô tuyến.

BN được theo dõi về giải phẫu và sinh lý của mi chúng tôi nhận thấy:

Hầu hết các BN đạt được kết quả da mi liền tốt (chiếm 98,4%), chỉ có 1 trường hợp da mi tạo sẹo co kéo gây biến dạng mi, chiếm 1,6%, bờ tự do của mi được kết mạc phủ tốt là 69 BN chiếm 88,4%, bờ tự do của mi bị biến dạng chiếm 11,6%, độ rộng của khe mi tốt, đều so với mắt lành chiếm 96,2%. Góc ngoài và góc trong đẹp, chiếm 94,8%.

Chức năng nhắm mắt của mi: mắt nhắm kín tốt 71 BN (91%). Chức năng mở mắt của mi: mắt mở tốt, đều so với bên lành là 64 BN, chiếm 82,1%.

Chức năng tiết nước mắt không thấy có BN nào bị ảnh hưởng đến chức năng tiết nước mắt mặc dù có BN có cảm giác khó chịu.

Những biến chứng như quặm 2 BN, lông xiêu 9 BN, khô mắt không thấy có trường hợp nào, có một trường hợp cảm giác khó chịu trong mắt, nguyên nhân là do kết mạc viêm có nhiều nhú phì đại.

Khối u tái phát ở 3 BN, chiếm 2,6%, có 2 BN sau 2 năm theo dõi khối u tái phát và xâm lấn vào tổ chức hốc mắt đòi hỏi phải tiến hành nạo vét tổ chức hốc mắt.

Trong 2 BN tái phát u phải nạo vét tổ chức hốc mắt, một trường hợp khối ung thư biểu mô tế bào đáy góc trong, một trường hợp ung thư biểu mô tuyến bã góc trong. Hai BN này khi làm mô bệnh học bờ mép cắt khó khăn, không xác định rõ ràng được là đã cắt đến tổ chức lành hay chưa. Có thể khối u ở góc trong sát thành xương với những cấu trúc của góc trong như đường dẫn lệ làm cho việc cắt sạch được u trở nên khó khăn hơn.

Bảng 1. Phân chia theo giới và tuổi

Tuổi

Giới

Dưới 40 Từ 40-60 Trên 60 Tổng số
Nam 1 15 19 35
Nữ 3 16 24 43
Tổng số 4 31 43 78

Nhóm BN nữ điều trị cao hơn nhóm BN nam điều trị. Trong nhóm BN trẻ tỷ lệ nữ/nam = 3/1.

Bảng 2. Các loại ung thư mi và vị trí giải phẫu của tổn thương

   Loại ung thư

 

 

Vị trí giải phẫu

Ung thư biểu mô TB đáy Ung thư biểu mô TB vảy Ung thư biểu mô tuyến bã Ung thư biểu mô nang
Mi trên 5 14 10 1
Mi dưới 31 5 10 0
2 mi 1 1 0 0
Tổng 37 20 20 1

Ở nhóm ung thư biểu mô tế bào đáy, vị trí khối u ở mi trên nhiều hơn ở mi dưới (có ý nghĩa thống kê với p>0,05).

Ở nhóm ung thư biểu mô tế bào vảy, vị trí khối u ở mi trên nhiều hơn ở mi dưới (có ý nghĩa thống kê với p>0,05)

Bảng 3. Kích thước của tổn thương sau khi cắt toàn bộ khối ung thư

Loại ung thư

 

Kích thước tổn thương

Ung thư biểu mô TB đáy Ung thư biểu mô TB vảy Ung thư biểu mô tuyến bã Ung thư biểu mô nang
Dưới 6 mm 4 3 2 0
Từ 6-15 mm 15 14 10 1
Trên 15mm 18 3 8 0

 

Trong những BN nghiên cứu, có 9 trường hợp kích thước của tổn thương mi sau cắt bỏ ung thư mi dưới 6 mm, 40 trường hợp kích thước của tổn thương từ 6-15 mm và 29 trường hợp độ lớn của khuyết mi sau cắt bỏ ung thư trên 15 mm.

 

Bảng 4. Kết quả giải phẫu ở những nhóm khuyết mi

Giải phẫu da và bờ mi Khuyết mi dưới 6 mm Khuyết mi từ 6 đến 15 mm Khuyết mi trên 15 mm
Đạt 9 36 23
Chưa đạt 0 4 6

 

Trong nhóm khuyết mi nhỏ, tỷ lệ thành công cao. Những nhóm khuyết mi trung bình và lớn, tỷ lệ chưa đạt về giải phẫu da và bờ mi còn cao.

Bảng 5. Kết quả về chức năng ở những nhóm khuyết mi

Chức năng của mi Khuyết mi dưới 6 mm Khuyết mi từ 6 đến 15 mm Khuyết mi trên 15 mm
Mở mắt tốt 9 35 20
Sụp mi 0 5 9
Nhắm kín 9 38 24
Hở mi 0 2 5

 

Trong nhóm khuyết mi trung bình và trong nhóm khuyết mi rộng, có 14 BN sụp mi (18%) và hở mi chiếm 7 BN (8,9%).

Bảng 6. Kết quả về giải phẫu theo vị trí của khuyết mi

Vị trí khuyết mi Đạt về giải phẫu Chưa đạt về giải phẫu
Khuyết mi trên trong 2 2
Khuyết mi trên 1/3 giữa 17 1
Khuyết mi trên ngoài 7 1
Khuyết mi dưới trong 4 2
Khuyết mi dưới 1/3 giữa 22 2
Khuyết mi dưới ngoài 15 1
Khuyết 2 mi 1 1
Tỷ lệ % 87,18% 12,82%

 

Bảng 7. Kết quả về chức năng theo vị trí của khuyết mi

 

Mở mắt tốt Sụp mi Nhắm kín Hở mi
Khuyết mi trên trong 2 2 4
Khuyết mi trên 1/3 giữa 10 8 14 4
Khuyết mi trên ngoài 4 3 8
Khuyết mi dưới trong 6 6
Khuyết mi dưới 1/3 giữa 24 22 2
Khuyết mi dưới ngoài 16 16
Khuyết 2 mi

 

1 1 1 1
Tỷ lệ

 

80,76% 19,24% 91,03% 8,97%

IV. BÀN LUẬN

Trong những BN có da mi tạo sẹo xấu sau phẫu thuật, BN ở nhóm tuổi từ 40 đến 60 tuổi, có khuyết mi sau phẫu thuật cắt u lớn hơn 15 mm. Có thể do số lượng BN chưa lớn nên chúng tôi chưa thấy có sự liên quan giữa độ lớn của mảnh da ghép đến ảnh hưởng của sự tạo sẹo sau đó. Tuy nhiên, những BN có biến dạng của bờ tự do thì nhóm khuyết mi rộng từ 6 đến 15 mm là 4 trường hợp và nhóm có khuyết mi trên 15 mm là 6 trường hợp. So với nghiên cứu của Hoyama trên các trường hợp khuyết mi trên cũng thấy những trường hợp có khuyết mi rộng có ảnh hưởng đến kết quả phẫu thuật [3]. Nghiên cứu của Mehta trên 154 tổn thương được phẫu thuật cho kết quả đạt được về giải phẫu là tương đối tốt, chỉ có một BN bị loét trên bề mặt da ghép và không có bằng chứng chứng tỏ ổ loét này là khối u tái phát, đa số các trường hợp có kết quả về giải phẫu và chức năng tốt, 2 mi cân đối, che phủ được bề mặt nhãn cầu tốt [5]. Tuy nhiên, trong nghiên cứu tác giả thấy có một số biến chứng như sợ ánh sáng xuất hiện ở 11 trường hợp (10%), lông xiêu 4 trường hợp (3,5%), những ảnh hưởng nhỏ của giải phẫu như quặm nhẹ hay biến dạng nhỏ ở góc xuất hiện ở 6 BN chiếm 5,2%.

Nghiên cứu của Dagregorio trên 17 trường hợp sử dụng mảnh sụn bờ mi có 2 trường hợp chảy nước mắt, 1 trường hợp hở mi và 2 trường hợp biến dạng mi nhẹ [1]. Tác giả cũng so sánh đối với các trường hợp tương tự như Sayag, Duccasse và cộng sự nghiên cứu trên 58 BN sử dụng mảnh sụn bờ mi với kích thước tổn thương trung bình là 9,82 mm cho kết quả tốt, rất ít các biến chứng [6].

Về tái phát của khối u, chúng tôi gặp 3 trường hợp tái phát ung thư trên vị trí của vùng mi đã cắt và tạo hình mi, trong đó có 2 trường hợp khối u xâm lấn sâu vào tổ chức hốc mắt đòi hỏi phải tiến hành nạo vét tổ chức hốc mắt. Trong nghiên cứu của Mehta trên 154 tổn thương trong đó có 115 là u ác tính có 4 trường hợp tái phát trong thời gian theo dõi, trong đó có một BN khối u khi tái phát xâm lấn vào nhãn cầu và hốc mắt cũng đòi hỏi phải nạo vét tổ chức hốc mắt [5]. Chúng tôi vẫn gặp khó khăn trong việc kiểm soát được bờ mép cắt để đảm bảo được đã cắt đến tổ chức lành sau khi cắt khối ung thư.

Trong nhóm BN cần tạo hình mi trên với kích thước khuyết mi rộng, chúng tôi gặp 14 trường hợp sụp mi không hoàn toàn và 7 trường hợp hở mi nhẹ, tuy nhiên không có trường hợp nào bị tổn thương giác mạc. Khi cắt u có xâm lấn bờ tự do tạo nên một khuyết mi rộng thường có tổn thương cơ nâng mi trên kèm theo.

V. KẾT LUẬN

Điều trị ung thư mi bằng phẫu thuật cắt khối u mi có kiểm soát bờ mép cắt và tạo hình mi bằng phương pháp ghép sụn kết mạc đã cho kết quả giải phẫu và chức năng mi tương đối khả quan. Mặc dù về mặt chức năng của mi còn có những hạn chế nhỏ như sụp mi nhẹ, hở mi, chảy nước mắt, lông xiêu, tuy nhiên chưa có trường hợp nào ảnh hưởng đến bề mặt nhãn cầu và chưa đến mức đòi hỏi phải can thiệp phẫu thuật tiếp.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Dagregorio., et al. (2005), “Reconstruction of seventeen full thickness defects of the eyelids with 22 Hubner tarsomarginal grafts”, Br. J of Plastic Surgery. 58:361-356.
  2. Ducasse A., Desphieux J.L., Pluot M., Segal A. (1995), “Les tumeurs malignes de paupiere”, Ophtalmologie. 9: 362-366.
  3. Hoyama E., et al. (2007), “Tarsomarginal graft in upper eyelid coloboma repair” Ame. Asso for Pedia Ophthalmol and Strabismus, 11: 499-501.
  4. Leibovitch I., et al. (2005), “Basal cell carcinoma treated with Mohs surgery in Australia outcome at 5-year follow-up”, J. Am. Acd Dermatol, 53: 452-457.
  5. Mehta H (1979), “Surgical managemet of carcinoma of eyelids and periorbital skin”, Br.J.Ophthalmol,63: 578-585.
  6. Sayag D, Duccasse A et al.(2001), “ Tarsomarginal graft. Indication and results in palpebral surgery”, J. Fr. Ophtalmol, 24:724-728.

The post Kết quả về giải phẫu và chức năng sau cắt bỏ ung thư mi và tạo hình mi appeared first on LÀNG NGHỀ HẢI VÂN.VN - làng nghề nhôm đúc, nhà gỗ, đồ gỗ.

]]>
Đánh giá kết quả phương pháp đặt ống silicon một lệ quản điều trị đứt lệ quản do chấn thương https://langnghehaivan.vn/danh-gia-ket-qua-phuong-phap-dat-ong-silicon-mot-le-quan-dieu-tri-dut-le-quan-do-chan-thuong/ Mon, 03 Jan 2022 13:48:24 +0000 http://langnghehaivan.vn/?p=8212 Mục đích: Đánh giá kết quả phương pháp đặt ống silicon một lệ quản và nhận xét đặc điểm kỹ thuật của phương pháp cố định ống silicon một lệ quản có cải biên. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: 73 bệnh nhân (BN) với 76 lệ quản (LQ) đứt do chấn thương vì …

The post Đánh giá kết quả phương pháp đặt ống silicon một lệ quản điều trị đứt lệ quản do chấn thương appeared first on LÀNG NGHỀ HẢI VÂN.VN - làng nghề nhôm đúc, nhà gỗ, đồ gỗ.

]]>

Mục đích: Đánh giá kết quả phương pháp đặt ống silicon một lệ quản và nhận xét đặc điểm kỹ thuật của phương pháp cố định ống silicon một lệ quản có cải biên.

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: 73 bệnh nhân (BN) với 76 lệ quản (LQ) đứt do chấn thương vì nhiều nguyên nhân khác nhau được điều trị nội trú tại khoa chấn thương Bệnh viện Mắt trung ương từ 10/06 đến 05/07. Kỹ thuật áp dụng là đặt ống silicon một LQ và cố định ống silicon bằng nơ chỉ 9/0  cải biên từ phương pháp nguyên bản của Garber.

Kết quả: Phẫu thuật đạt kết quả khả quan. Tại thời điểm 3 tháng và 6 tháng sau phẫu thuật tỷ lệ thành công về giải phẫu là 92,1%, tỷ lệ thành công về chức năng là 94,5%, tỷ lệ thành công về thẩm mỹ là 98,7%, đưa tỷ lệ thành công chung lên 94,5%.

Biến chứng sau phẫu thuật: Tỷ lệ mất ống giảm còn 6,5%, các biến chứng khác ít gặp, không gây nguy hiểm và có thể khắc phục dễ dàng.

I.  ĐẶT VẤN ĐỀ

Chấn thương LQ là một cấp cứu nhãn khoa thường gặp cần được xử trí đúng, kịp thời tránh hậu quả tắc lệ đạo gây chảy nước mắt và biến dạng góc trong ảnh hưởng thẩm mỹ. Các phương pháp điều trị phục hồi luôn được nghiên cứu, cải tiến nhằm nâng cao hiệu quả điều trị .

Nhiều tác giả đã tiến hành những nghiên cứu khác nhau và đưa ra nguyên tắc cơ bản của phẫu thuật là khâu nối tận – tận hai đầu LQ đứt phối hợp đặt một ống trong lòng LQ. Silicon là chất liệu tốt nhất làm ống dẫn. LQ đứt cần được tái tạo và khi nối một LQ không được làm tổn thương LQ lành cùng bên. Đây là cơ sở của phương pháp đặt ống silicon một LQ. Ở nước ta từ năm 2005, phương pháp này được áp dụng nhưng chưa phổ biến vì chưa được đánh giá cụ thể. Chúng tôi tiến hành nghiên cứu này nhằm mục đích đánh giá kết quả của phương pháp đặt ống silicon một LQ và nhận xét đặc điểm kỹ thuật của phương pháp cố định ống silicon có cải biên .

II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng nghiên cứu

2.1.1. Tiêu chuẩn lựa chọn

73 BN (76 mắt) đứt LQ được điều trị nội trú tại khoa Chấn thương Bệnh viện Mắt TƯ từ tháng 10/2006 đến tháng 05/2007. Các BN có chỉ định phẫu thuật: BN đứt LQ ở 1/3 ngoài và 1/3 giữa, đủ sức khỏe để tham gia phẫu thuật và đồng ý  tham gia nghiên cứu.

2.1.2. Tiêu chuẩn loại trừ

BN đa chấn thương quá nặng không thể tham gia phẫu thuật nối LQ. BN có tiền sử khô mắt, có tổn thương bán phần trước gây chảy nước mắt hoặc những bệnh lý khác gây chảy nước mắt như quặm, viêm loét giác mạc, tăng nhãn áp …

2.2. Phương pháp nghiên cứu

2.2.1. Phương tiện nghiên cứu

– Máy ảnh kỹ thuật số có khả năng chụp gần ở cự ly 5 cm và những dụng cụ khám thông dụng (bảng thị lực, máy soi đáy mắt, sinh hiển vi khám bệnh).

– Máy sinh hiển vi phẫu thuật.

– Bộ dụng cụ vi phẫu phục vụ cho phẫu thuật nối LQ gồm những dụng cụ thông thường và một số dụng cụ chuyên dụng phục vụ phẫu thuật như que nong điểm lệ, kéo Vannas, panh giác mạc, ống silicon đường kính 0,64 mm, móc đôi vi phẫu, chỉ 9/0; 6/0; 7/0.

2.2.2. Chuẩn bị bệnh nhân

– Đánh giá tình trạng toàn thân nhằm phát hiện những tổn thương hoặc bệnh lý toàn thân ảnh hưởng phẫu thuật. Thử thị lực và tìm những tổn thương phối hợp nếu có để xử trí toàn diện. Làm các xét nghiệm cấp cứu cần thiết và đề ra chỉ định phẫu thuật.

2.2.3. Kỹ thuật phẫu thuật

– Gây tê tại chỗ và phong bế thần kinh trên–dưới hốc mắt bằng dung dịch Xylocain 2%. Gây mê với trẻ em hoặc  người lớn hợp tác kém. Gây tê bề mặt nhãn cầu bằng dung dịch Dicain 1%. Rửa sạch và sát trùng vết thương bằng dung dịch Betadin 5%. Lấy dị vật và cắt lọc tổ chức hoại tử nếu cần thiết.

– Tiến hành phẫu thuật theo 3 bước:

+ Tìm 2 đầu LQ đứt: Dùng móc đôi bộc lộ vết thương, có thể tra dung dịch Dicain 2% pha Adrenalin nhằm cầm máu, co mạch, co cơ làm bộc lộ rõ đầu LQ đứt.

+ Đặt ống dẫn vào lòng LQ và cố định ống: Luồn ống silicon đã chuẩn bị sẵn (dài 3 cm, cắt vát một đầu, cắt một phần thiết diện ống cách đầu vát 2 mm, buộc chỉ 9/0 để nguyên cả 2 kim vào ống tại vị trí đã cắt) qua lỗ lệ  – đầu đứt ngoài – đầu đứt trong – phần lệ quản trong và túi lệ. Cố định đầu ngoài ống (Đưa 2 kim 9/0 qua lỗ lệ xuyên qua chiều dầy 1/3 mi đến da mi và thoát ra tại  điểm cách bờ mi 2 mm. Buộc 2 đầu chỉ 9/0 ngoài da mi với đuôi chỉ 9/0 ở phần LQ đứng thoát ra tại lỗ lệ).

+ Nối niêm mạc hai đầu LQ đứt và khâu phục hồi mi theo đúng mốc giải phẫu: Đặt 2 mũi chỉ 7/0 hình chữ U quanh hai đầu LQ đứt. Đặt các mũi 6/0 hoặc 5/0 khâu phục hồi cơ vòng cung mi. Khâu kết mạc và da mi vùng góc mắt trong bằng chỉ 7/0. Các tổn thương mi khác khâu 3 lớp theo đúng mốc giải phẫu.

2.2.4. Theo dõi sau mổ

BN đứt LQ đơn thuần được điều trị nội trú 2 ngày. Thời gian theo dõi kéo dài 6 tháng và chia làm 3 giai đoạn.

+ Tuần đầu sau mổ: phát hiện biến chứng sớm nếu có và xử lý. Cắt chỉ khâu da.

+ 3 tháng sau mổ: cắt chỉ cố định và tháo ống silicon, nhận xét tình trạng giải phẫu, chức năng lệ đạo và thẩm mỹ sẹo mi.

+ 6 tháng sau mổ: đánh giá tình trạng giải phẫu, chức năng lệ đạo và thẩm mỹ sẹo mi.

2.2.5. Đánh giá kết quả

+ Kết quả giải phẫu: dựa vào kết quả bơm thông lệ đạo. Thành công nếu nước thoát xuống miệng tốt. Thất bại nếu nước trào tại chỗ.

+ Kết quả chức năng: dựa vào triệu chứng chảy nước mắt:

Tốt: không chảy nước mắt.

Đạt yêu cầu: khi chỉ chảy nước mắt trong điều kiện chế tiết nước mắt phản xạ (khi ra nắng, gió)

Không đạt yêu cầu: khi chảy nước mắt liên tục.

+ Kết quả thẩm mỹ: dựa vào tình trạng phục hồi giải phẫu góc mắt trong, bờ tự do của mi, điểm lệ.

Đạt yêu cầu khi góc mắt trong phục hồi đúng giải phẫu, bờ tự do và điểm lệ tiếp xúc tốt với kết mạc nhãn cầu vùng hồ lệ.

Không đạt yêu cầu khi góc mắt trong phục hồi không đúng giải phẫu và bị sẹo co kéo gây biến dạng, bờ tự do và điểm lệ không tiếp xúc tốt với kết mạc nhãn cầu vùng điểm lệ.

+ Đánh giá kết quả chung: dựa vào kết quả phục hồi giải phẫu, chức năng và thẩm mỹ:

Tốt: giải phẫu lệ đạo thông, chức năng tốt và thẩm mỹ đẹp.

Trung bình: giải phẫu lệ đạo thông hoặc tắc, chức năng đạt yêu cầu, thẩm mỹ đẹp.

Kém: giải phẫu tắc, chức năng không đạt yêu cầu, thẩm mỹ xấu.

III.  KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. Đặc điểm BN trước phẫu thuật

Tổng số 73 BN (76 LQ) với tỷ lệ 52 nam/21 nữ. Đa số BN ở độ tuổi lao động, tuổi trung bình 31,6 ± 17,4 và chủ yếu là lao động phổ thông (53,4%). Nguyên nhân chính gây chấn thương ở người lớn là tai nạn giao thông (39 ca– 53,4 %) và ở trẻ em là chó cắn (7 ca- 9%). Tỷ lệ chấn thương MP/ MT là 38 ca (52,1%)/ 35 ca (47,9 5%). Chủ yếu BN đứt 1 LQ dưới có 67 ca (92%), số BN đứt 1 LQ trên là 3 ca (4%) và số BN đứt cả 2 LQ chỉ có 3 ca (4%). Về vị trí đứt LQ, số BN đứt 1/3 giữa là 56 ca (73,7%) và số BN đứt 1/3 ngoài là 20 ca (26,3%). Số BN đứt LQ đơn thuần là 19 ca (26,1%), các tổn thương kèm theo như vết thương mi phối hợp 35 ca (47,9%), vết thương nhãn cầu phối hợp 13 ca (17,8%), chấn thương hốc mắt 4 ca (5,5%), chấn thương sọ não 2 ca (2,7%).

Về xử trí ban đầu sau chấn thương, đa số BN được băng ép cầm máu (58 ca-79,5%), BN được khâu mi không nối LQ 15 ca (20,5%). Số BN đến trước 6 ngày sau chấn thương chiếm 68 ca (93,1%). Thời gian điều trị nội trú trung bình là 2,1 ± 1,6 ngày.

3.2. Kết quả giải phẫu

Tại thời điểm 3 tháng sau phẫu thuật, cắt chỉ rút ống silicon và bơm thăm dò LQ cho kết quả thông 70 ca (92,1%), tắc nghẽn 6 ca (7,9%).

3.3. Kết quả chức năng

Tại thời điểm 3 tháng và 6 tháng sau phẫu thuật, dựa vào triệu chứng chảy nước mắt thấy số BN kết quả tốt 67 ca (91,8%), đạt yêu cầu 2 ca (2,7%) và số BN không đạt yêu cầu 4 ca (5,5%).

3.4. Kết quả thẩm mỹ

Tại cả 3 thời điểm theo dõi, số BN đạt yêu cầu là 75 ca (98,7%), chỉ 1 LQ bị sẹo co kéo gây trễ mi và biến dạng mi (1,3%).

3.5. Kết quả chung

Tại cả 3 thời điểm theo dõi, kết hợp kết quả giải phẫu – chức năng – thẩm mỹ có kết quả chung  là tốt 67 ca (91,8%), trung bình 2 ca (2,7%) và kém 4 ca (5,5%).

3.6. Biến chứng phẫu thuật

Trong phẫu thuật không gặp biến chứng. Sau phẫu thuật biến chứng hay gặp là kích thích kết giác mạc do đầu silicon dài quệt vào (6 ca– 9,7%), biến chứng rơi mất ống silicon gặp ở 5 ca (8,1%), các biến chứng khác như tăng sinh tổ chức hạt, rách điểm lệ, lỗ rò ít gặp.

IV. BÀN LUẬN

4.1. Đặc điểm của nhóm nghiên cứu

Một đặc trưng của đứt LQ do chấn thương được thấy trong hầu hết các nghiên cứu là tuổi BN còn trẻ, tuổi trung bình 31,6 ± 17,4. Nam hay gặp hơn nữ và thường làm công việc lao động phổ thông do nam giới thường tham gia các công việc nặng nhọc và hay có những hành vi bạo lực hơn nữ giới. Trẻ em nam cũng hiếu động hơn trẻ em nữ, lao động phổ thông là những đối tượng dễ bị phơi nhiễm với những yếu tố nguy cơ gây chấn thương. Các đặc điểm này cũng phù hợp với kết quả nghiên cứu của các tác giả khác như Vương Văn Quý [7].

Về nguyên nhân gây chấn thương, tai nạn giao thông mà chủ yếu là tai nạn xe máy. Khi bị ngã xe máy ,theo quán tính người lao về phía trước, gò má tiếp xúc với mặt đường và bờ mi bị kéo căng về phía dưới ngoài gây đứt LQ. Đặc điểm này tương đồng với kết quả nghiên cứu của các tác giả trong nước [7] song không  tương đồng với kết quả nghiên cứu của các tác giả nước ngoài do ở nước ngoài phương tiện giao thông chủ yếu là xe ô tô và tỷ lệ tai nạn giao thông ngày càng giảm. Tỷ lệ BN đứt LQ dưới chiếm 92,1% và vị trí đứt ở 1/3 giữa chiếm 73,7% trong nghiên cứu này phù hợp với kết quả nghiên cứu của đa số các tác giả trong nước và được lý giải do lệ quản trên được bảo vệ bởi bờ trên xương hốc mắt, khi bờ mi bị kéo căng về phía dưới ngoài lực căng thường tác động vào 1/3 giữa và 1/3 trong gây đứt LQ tại đây.

4.2. Phương pháp và kết quả phẫu thuật

Phương pháp phẫu thuật nối LQ đặt ống silicon một LQ đã được nhiều tác giả áp dụng trên lâm sàng với nhiều kỹ thuật cố định ống khác nhau. Phương pháp này có ưu điểm về kỹ thuật là chỉ thao tác trên LQ đứt nên không gây tác động bất lợi tới LQ lành cùng bên. Song nguyên nhân chính gây thất bại phẫu thuật là mất ống dẫn trước thời hạn do không được cố định tốt. Tỷ lệ mất ống trong ngiên cứu của Vương Văn Quí [7] là 62,5%, trong ngiên cứu của Kenedy R/H (1990) là 73,9%. Với mục đích hạn chế phạm vi can thiệp phẫu thuật, bảo vệ LQ lành cùng bên, duy trì ống dẫn silicon tốt chúng tôi đã cải tiến kỹ thuật cố định ống từ phương pháp nguyên bản của Garber. Trong nghiên cứu nguyên bản của Garber, đầu ngoài ống silicon uốn thành hình móc câu xuống dưới điểm lệ 5 mm, chỉ cố định xuyên từ kết mạc qua bề dày mi dưới cố định ống silicon vào da mi vùng điểm lệ. Với đầu ngoài ống silicon dài như vậy, rất dễ bị va quệt làm tuột ống nhất là với BN trẻ em. Trong nghiên cứu của chúng tôi, ống silicon được tạo dáng và cố định một đầu ống bằng chỉ 9/0, đầu ngoài ống silicon sát điểm lệ, 2 kim 9/0 xuyên qua lỗ lệ- thành ống silicon– chiều dày 1/3 mi (từ LQ đến da mi) và thoát ra tại điểm cách bờ mi 2 mm, 2 đầu chỉ 9/0 ngoài da mi được buộc với đuôi chỉ 9/0 nằm ở phần LQ đứng thoát ra tại lỗ lệ để cố định đầu ngoài ống silicon vào bờ mi ngay sát điểm lệ. Với cách cố định mới này ống silicon được giữ tốt trong lòng LQ đứt nhờ được đặt như nằm trong khuôn đúc là thành LQ. Nhược điểm chính của phương pháp đã được khắc phục, tỷ lệ mất ống giảm còn 6,58%. Ưu điểm của phương pháp đã được khẳng định: ống dẫn cố định tốt, việc đặt ống không gây tổn thương LQ lành, rút ngắn thời gian phẫu thuật, giảm chi phí, không đòi hỏi dụng cụ chuyên dụng và quan trọng nhất là cho kết quả tốt.

Tại thời điểm 3 tháng và 6 tháng sau phẫu thuật, tỷ lệ BN đạt kết quả tốt là 91,8%, đạt kết quả trung bình là 2,7%, đạt kết quả kém là 5,5% đưa tỷ lệ thành công chung của phẫu thuật lên 94,5%.

4.3. Biến chứng của phẫu thuật

Phần lớn các biến chứng có liên quan đến ống silicon như: rách điểm lệ, kích thích kết giác mạc, tăng sinh tổ chức hạt, mất ống silicon, dò LQ kết mạc, sẹo co kéo biến dạng mi. Nhìn chung các biến chứng này không nguy hiểm và dễ khắc phục như cắt bớt đầu ống silicon, cắt tổ chức hạt tăng sinh sau đó đốt điện hoặc đốt nhiệt phối hợp tra thuốc kháng sinh pha corticoid tại chỗ, đóng lỗ dò LQ– kết mạc, tiến hành phẫu thuật tạo hình lại mi sau 6 tháng khi quá trình làm sẹo đã ổn địn hoàn toàn.

V. KẾT LUẬN

Phẫu thuật đặt ống silicon một LQ điều trị đứt LQ do chấn thương mới được áp dụng ở Việt nam nhưng đã đạt kết quả khả quan. So với phương pháp đặt ống silicon 2 LQ phương pháp này không tác động đến LQ lành cùng bên nên bảo vệ được khả năng dẫn lưu nước mắt trong điều kiện tiết nước mắt cơ bản. Với cải tiến trong kỹ thuật cố định ống silicon từ phương pháp nguyên bản của Garber đã khắc phục nhược điểm chính của phẫu thuật, tỷ lệ mất ống giảm còn 6,5%. Kết quả phẫu thuật rất khả quan, tại thời điểm 3 tháng và 6 tháng sau phẫu thuật tỷ lệ thành công về giải phẫu là 92,1%, tỷ lệ thành công về chức năng là 94,5%, tỷ lệ thành công về thẩm mỹ là 98,7% đưa tỷ lệ thành công chung lên 94,5%. Các tai biến sau phẫu thuật ít gặp, không nguy hiểm và có thể khắc phục dễ dàng mà không gây ảnh hưởng đến kết quả điều trị.

The post Đánh giá kết quả phương pháp đặt ống silicon một lệ quản điều trị đứt lệ quản do chấn thương appeared first on LÀNG NGHỀ HẢI VÂN.VN - làng nghề nhôm đúc, nhà gỗ, đồ gỗ.

]]>